Showing posts with label Bùa chú. Show all posts
Showing posts with label Bùa chú. Show all posts

Bùa ngải - Bức màn huyền hoặc: Lý giải những điều thần bí

Leave a Comment
ANTĐ - Nhà nghiên cứu văn hóa tâm linh Phạm Văn Tư cho biết: Nhiều người coi bùa ngải là thần bí, khó lý giải nguyên nhân và mang nhiều màu sắc hoang đường. Nhưng thực ra từ thời cổ đại, người ta đã tìm thấy công thức luyện bùa yêu: Một số loài hoa có mùi thơm, chất nước từ cánh hoa, rễ cây như oải hương, đàn hương có ma lực làm cho lòng người rạo rực, tâm thần lâng lâng, hay chỉ cần cho đối tượng uống vài giọt nước có tên khoa học là Nagameru, là đạt được mong ước quyến rũ bạn tình.


Theo các pháp sư, chế bùa ngải không khó, quan trọng là người làm ngải muốn làm điều tốt hay xấu


Ngải là cỏ cây, rễ lá

Tháng 10 âm lịch theo nông vụ, khí trời thuận lợi, cũng là lúc nhiều thầy bùa ngải đi tìm “nguyên liệu” phục vụ cho mùa xuân cúng bái cầu tài, cầu lộc. Theo chân thầy cúng người Thượng họ Phìn, tôi vấp ngã liên tục khi vướng phải rễ cây chằng chịt trong khu rừng nguyên sinh thuộc huyện Đạ Tẻ, Lâm Đồng. “Phải đi sớm thế này, cây còn nguyên sương, dễ đào, tinh khí trời đất tụ trong củ rất nhiều”. “Trông như củ cây Tóc tiên ấy, bác nhỉ?”. Ông Phìn Thong bảo: “Không phải, nó trông vậy nhưng thuộc họ lan rừng. Phải đi tìm nhiều, về chăm và nuôi ngải, mới biết đâu là giống quý, loài nào mới dễ thành ngải”. “Ngải nuôi ra hoa nhiều sinh khí chừng 5-6 tháng, tao mới bán cho những các doanh nhân đặt phong thủy trừ tà, xin phúc lộc, tuyệt nhiên không chế ngải độc. Đó là lời thề của những người làm ngải”.

Ông kể, dòng họ nhà ông từ Vân Nam, Trung Quốc chạy loạn và sống ở đây đã 200 năm, có nghề làm thuốc và ngải hương liệu. Ngải thực chất là cỏ cây, rễ lá, thứ nào cũng được tùy theo tính năng của dược liệu dùng để trị bệnh cứu người. Tuy nhiên thời trước giải phóng, từng có người chế ngải độc. Rồi ông Phìn Thong bảo: “Mày không tin, tao sẽ cho xem mấy loại ngải”. Thế rồi 4h sáng ông bắt tôi dậy sớm. Sau lễ cúng, ông trịnh trọng ra vườn, dùng găng tay nilon đào một củ gừng, lau sạch rồi dâng lên ban thờ. Khoảng 1 tiếng sau, ông ra sân gọi con gà già nhất, tung củ gừng về phía nó. Miếng gừng rơi vào lưng con gà bất hạnh, một mùi khét lẹt tỏa ra. Hơn 10 phút sau, con gà gục xuống rồi từ từ bốc khói… Tôi rùng mình.

Vẫn củ gừng ấy, sau khi ướp với một vài thứ nước sẫm màu, ông Thong đem nướng. “Lát nữa khói bay lên, tao sẽ biết đích xác trong bán kính 1km có người ốm nặng, có người sắp chết”. Ông Thong nhắm mắt và định hướng: “Góc Tây Nam có người phụ nữ gầy nhăng nhẳng, giọng the thé bị đau bụng dữ dội. Có đứa hại định cướp chồng… Phía Bắc gần bìa ruộng có ông lão bị cục gì to lắm ở ngực, thở không nổi…”. Kinh ngạc thay, tầm 7-8h sáng, những người như ông Thong tả được người nhà đưa tới. Tôi hỏi giọng hồ nghi, ông Thong cười không trả lời. Đêm, sau bữa cơm đạm bạc với món rau rừng, cơm nếp lạ và ngon, ông Thong kể: “Tao chẳng biết tại sao ngải độc như vậy, song khi chế thêm hương liệu, nó giúp tao cảm nhận được mùi uế khí từ rất xa, tao còn thấy được hình dáng của người bệnh. Cứ như Trời chỉ cho tao phải chữa cho họ. Nếu họ không biết, tao cũng phải đến tận nơi để nói và chữa cho họ. Từ thời cố nội tao đã hướng dẫn phải làm phép giúp người, đến giờ nhiều thứ tao cũng chẳng giải thích được”.

Read More...

Bùa ngải - Bức màn huyền hoặc: Chuyến đi tìm ngải

Leave a Comment
ANTĐ - Chỉ khi gặp được những “cao nhân” giải thích đầy đủ nhiều câu chuyện rất liêu trai, kinh dị về bùa ngải, mới có thể mở tấm màn mong manh thật, giả…

Tôi là kẻ chẳng tin bùa ngải, chỉ tin vào sự thành tâm và lòng thiện của con người. Nhưng khi tận mắt chứng kiến những thầy bùa làm chú, làm ngải, tôi rùng mình… Một nỗi sợ ám ảnh đến tận bây giờ. Chỉ khi gặp được những “cao nhân” hơn giải thích đầy đủ nhiều câu chuyện rất liêu trai, kinh dị về bùa ngải, tôi mới dám đi và gắng mở tấm màn đầy sắc màu tâm linh, trong đó thật mong manh ranh giới thật, giả…


Bùa ngải là những hương, dược liệu có khả năng trị bệnh. Nhưng để tăng sự kỳ bí,
các thầy bùa thường làm lễ cúng rất lớn nhằm tăng uy lực siêu phàm của mình

Bí truyền gia tộc

Đã gắng tránh thứ Sáu ngày 13 cuối cùng của năm, để ở nhà cho lành, anh Nguyên làm xuất nhập khẩu cà phê trên Đắk Lắk cứ bắt tôi đi: “Cái ông thầy ngải họ Đoàn nổi tiếng ở Tân Hưng (Long An), sắp đi tìm ngải, có đi thì sang ngay”. Thế là chẳng kịp áo quần chống rét, tôi phi sang anh và hành trình gần 10 tiếng đau ê ẩm trên tuyến tỉnh lộ 20 nhiều ổ voi, ổ trâu nhất Việt Nam bắt đầu… Cứ mỗi đoạn nghỉ ven đường, tôi lại lân la hỏi ông M, người đang giữ bí truyền làm ngải huyền bí bậc nhất vùng núi Tây Bắc, để biết ông có mang theo cuốn sách loằng ngoằng chữ Phạn mà 1 lần về Long An, tôi đã nhờ con trai ông lấy trộm cho xem, bị ông mắng cho một trận, vuốt mặt không kịp. “Cả họ nhà tui mấy trăm người, chỉ có tui là được đọc, nhiều anh em tui biết sử dụng, còn chẳng dám ngó, thế mà chú…” - Câu chuyện đã gần 2 năm và từ bữa đó, tôi ân hận mãi. Ông M rồi cũng tha thứ và nhận tôi làm em nuôi dù ông hơn tôi đến 30 tuổi.

Chuyến này, ông M và người em đi kiếm những củ nghệ đen cỡ 4-5 kg trở lên, củ khớp, củ ngọc linh còn nguyên cây để về chế thuốc. “Mọi người cứ cho nó là ngải, nhưng thực ra nó là những cây thuốc Nam hàng ngày mình vẫn quen dùng: láng, gừng, nghệ, đinh lăng và cả những cây, hạt, lá cực độc như mã tiền, trúc đào, khớp… Nếu biết cách trồng và chế biến, đây là những vị thuốc chữa bệnh hiệu quả”. Ông M kể, vùng biên giới giáp Campuchia rắn rết vô cùng nhiều, người đi nương thường gặp rắn, có người chất độc đã ngấm vào tim, bệnh viện trả lại, thế mà ông đắp ngải, 1 tuần sau máu hết đen, khỏe lại. Còn nhiều loại ngải dùng để chữa bệnh viêm họng mãn tính, u vú, trẻ con mất vía, trâu bò bị thương dòi bọ làm tổ… rất công hiệu, chủ yếu ông giúp bà con, không lấy tiền.

Gia tộc họ Đoàn thuộc một trong những tộc người miền núi phía Bắc hùng mạnh và thời nhà Trần thế kỷ XII, Thái sư Trần Nhật Duật đã mất nhiều công sức thu phục các nhóm người Mường - Mán, Thái-Tày dọc từ Tuyên Quang, Thái Nguyên lên Cao Bằng, Bắc Cạn. Khi nhà Mạc bị vây đánh, loạn lạc liên miên, gia tộc họ Đoàn đã theo nhà Mạc chạy vào Thanh Hóa, Bình Thuận, Long An rồi xuống tận Bạc Liêu, Kiên Giang…

Read More...

Xuất ngoại thỉnh bùa cầu tài, mua ngải câu tình

Sau những lần diện kiến nhiều thầy bùa và các “tín đồ” bùa chú, tôi nhận ra một điều: Bùa chú chưa nhiều người tin nhưng người đã tin thì không khác gì một “con nghiện”, phó thác tất cả vào chúng.



Bùa chú ở nước ta chủ yếu là phát sinh và du nhập, nhiều người không tiếc công sức, tiền bạc xuất ngoại để tìm mua bằng được bùa “gốc” với hy vọng thỉnh được bùa thiêng thật sự. Một làn sóng ồ ạt xuất ngoại thỉnh bùa đã manh nha từ lâu và đang ngày càng lan rộng.

Sau nhiều ngày tiếp xúc với pháp sư T., khi đã thân thiết, ông không ngại khoe với tôi “danh sách khách hàng” của mình. Nhiều người trong số đó là đại gia giàu có, không kinh doanh vài cửa hàng thì cũng là giám đốc doanh nghiệp lớn nhỏ.

“Cầu tình sang Đài, cầu tài sang Thái”

Ông T. cho biết, trong giới kinh doanh thì việc cúng bái lễ lạt nhiều lần trong năm không hiếm. Ngoài các lễ cúng đất, cúng mở hàng... theo tín ngưỡng, nhiều người phải thường xuyên thỉnh pháp sư tổ chức một loạt các nghi lễ huyền thuật để giao thiệp với âm binh bằng bùa chú để hóa giải hoặc mưu cầu gì đó.
Read More...

Những bí mật chưa tiết lộ về bùa ngải: Trong thế giới thầy bùa


Dân Việt - Ở nước ta, hầu hết mọi người đều từng nghe đến việc dùng bùa ngải để mưu cầu điều tốt cho mình hoặc để ám hại người khác. Vậy bùa chú có thật sự mang công dụng vô biên hay không?
Phóng viên báo Dòng Đời bỏ nhiều công sức và thời gian đi tìm câu trả lời xác đáng.

Bùa ngải có nhiều dòng phái nhưng tựu trung lại là dùng phương pháp làm phép “gửi lệnh” điều khiển âm lực vào một vật cụ thể nào đó để trấn yểm, phục vụ mục đích người dùng. Pháp sư có pháp lực càng cao thì “thương hiệu” càng lớn và dĩ nhiên được nhiều người tin tưởng thỉnh bùa.

Mất nhiều tháng thuyết phục, chúng tôi mới được diện kiến ông T., một pháp sư có tiếng ở Sài Gòn và được ông chia sẻ những sự thật về bùa ngải.

Diện kiến thầy bùa

Nhà pháp sư T. nằm ở mặt tiền đường trên địa bàn Q.Bình Thạnh. Căn nhà rất rộng nhưng cửa đóng then cài quanh năm, chỉ một mình ông ở. Cả gia đình ông đều định cư ở nước ngoài. Ông năm nay 40 tuổi, từng tốt nghiệp cử nhân luật nhưng 20 năm qua ông chỉ chuyên tâm nghiên cứu bùa ngải.

Ông gặp chúng tôi sau một chuyến “công cán” từ Tây Ninh trở về. Gia chủ ở đó xây cất nhà ở gần nghĩa địa, thường xuyên bị ma quấy quá. Thử mọi cách cúng viếng, cầu siêu vẫn không được. Nghe danh thầy T., gia chủ cất công lặn lội xuống Sài Gòn cậy nhờ. “Thực chất đó không phải là những hồn ma mà là những âm binh. Chỉ có người am tường huyền thuật mới có thể hóa giải” - ông T. nói.

Phải thuyết phục lắm, chúng tôi mới được ông T. cho phép vào tham quan căn phòng nơi ông nghiên cứu và thực hành bùa pháp. Căn phòng nhỏ đốt nhang trầm nghi ngút. Ở chính giữa là bàn làm việc có mực tàu và giấy vẽ bùa. Xung quanh bốn bức tường là 8.000 đầu sách đủ thứ tiếng chuyên về bùa ngải. Trên các bức tường treo nhiều ảnh mà theo ông là cao tổ của các trường phái bùa ngải. Tất cả đều là người Trung Quốc, Thái Lan hoặc Ấn Độ. Theo lời ông, bùa ngải chỉ là một trong những hình thức khai triển huyền thuật, ngoài ra còn có trù ếm, thần thông, thôi miên…

Huyền thuật có lịch sử ít nhất đã 8.000 năm, bất cứ tôn giáo nào, dân tộc nào cũng có huyền thuật. Ở nước ta, có rất nhiều loại huyền thuật tự sinh hoặc du nhập. Cơ bản nhất vẫn có thể kể đến các dòng Nam Tông (Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Campuchia…), dòng Tiên Đạo (Trung Quốc, Tây Tạng…) hay huyền thuật của các dân tộc (như người Mường)… Mỗi dòng đều có thế mạnh thế yếu nhưng trước đây dùng để chữa bệnh, trừ ma diệt quỷ chứ không dùng hại nhau như bây giờ.

Bùa ngải dùng đủ thứ chất liệu từ cây cỏ đến vật dụng, tùy phép yểm và mục đích. Lá bùa có loại nhỏ bằng ngón tay, có loại to như mặt bàn. Loại chôn, loại đốt, loại uống (trực tiếp hoặc đốt), cũng có loại vô hình vô trạng… Ở miền Nam, huyền thuật chủ yếu thịnh hành dòng Nam Tông, đặc biệt là bùa chú của Thái hoặc Miên (Campuchia). Huyền thuật tôn chỉ là điều chỉnh quan hệ giữa con người với cõi siêu nhiên. Vì vậy, xuất phát điểm của bùa ngải đơn thuần là vì mục đích tốt.

Dòng huyền thuật nào cũng có “bùa hại”. “Bùa hại” từ sơ khởi cũng đã có nhưng chỉ mang tính chất để răn đe, trừng phạt những người xấu và giúp họ quay đầu chuyển ý. “Từ lâu, việc dùng bùa phép ám hại nhau là có thật, dù nhiều người chưa tin” - ông T. khẳng định.

Đẳng cấp và trả giá

Cũng theo lời ông, huyền thuật sơ khai mang mục đích tốt đẹp nên pháp sư cũng vậy. Những người có khả năng khai triển huyền thuật là những người đức đạo, thành tâm. Tuy nhiên, ngày nay nhiều thầy bùa, pháp sư công khai dùng huyền thuật để kiếm tiền, khai sinh ra nhiều tà thuật.

Bùa yêu có rất nhiều loại và rất “thịnh hành” trong giới bùa chú hiện nay

Ông khẳng định huyền thuật không phân biệt chánh tà, chỉ có người sử dụng huyền thuật vào mục đích tốt hay xấu. “Người khai triển huyền pháp mục đích hại người đã phạm vào đại kỵ và quả báo rất lớn” - ông nói. Như trường hợp một thầy bùa ở Tây Ninh chuyên yểm bùa hại người theo yêu cầu. Ông này sống đến 60 tuổi thì bị điên rồi chết. Con cháu ông không hiểu vì sao đều bị điên cùng lúc. Ông khẳng định việc trả giá như vậy trong huyền giới không hiếm.
Read More...

Tản mạn Bùa chú Nam Tông

Đôi lời phi lộ-Đây là bài tổng hợp của một TV trên TGVH(chủ yếu soạn lại từ những bài của thầy Tiêu Diêu Tử), thiển nghĩ đăng lại nơi đây để mọi người có thêm kiến thức về Bùa ngải Nam Tông. Ngòai ra còn có những bài kinh, chú trừ tà, gỡ thư ếm, ẩn thân, cứu bệnh, chữa sưng trặc, hóc xương, giữ nhà, ngừa trộm …. Song bùa ngải như con dao, mà OZ chưa đủ kiến thức xem thực hư thế nào, nên không thể post lên kẻo có độc giả tò mò dùng thử. Người biết dùng dao còn sợ có ngày bị đứt tay huống hồ phần lớn chúng ta hiểu biết về thế giới bùa ngải chẳng khác chi đứa con nít 3 tuổi, mà đứa con nít cầm dao chơi quả là nguy hiểm. Thiện tai!
Tại sao gọi là Nam Tông ? Nam tông được lưu hành rộng rãi ở miền Tây nam bộ ở nước ta, là 1 trong những tông phái tiểu thừa của phật giáo chuyên lấy kinh chú theo tiếng Pali của đức phật, bị ảnh hưởng lớn từ nguồn gốc Bà La Môn và Ấn Độ Giáo, Tiểu thừa Nam tông phật giáo còn có những huyền bí kể như phép thuật bùa chú.
Nam Tông là cách gọi chung ? Bùa phép từ nguồn gốc của Ấn Độ truyền sang các các nước Thailan, Miến Điện, Lào,…chia ra nhiều môn phái khác nhau như Xiêm,Lèo, Mẹ Sanh Mẹ Lục,5 Ông Ngũ Phương Phật, Hời, Mọi, Vạn Thiên Giới Linh,…Tom ta gọi chung đều là Nam Tông,
Phép Nam Tông khác với Tiên Đạo Phù Chú? Tiên Đạo xuất nguồn từ Trung Hoa dụng bùa chú vào linh giới lấy tinh khí của trời đất, âm dương và ngũ hành bát quái, tiên khí sinh thần.
Khác với Tiên Đạo, Nam tông là nguồn bùa chú đầy nguy hiểm, và có tính chất tàn ác lấy tứ tượng. Ta lấy 1 số chuyện thường của các đạo sư bùa ngãi của Nam Tông vào những chuyện nuôi ma quỷ, ma xó, thiên linh cái hay các loại tà ngãi độc trùng, hay lấy máu huyết để cúng tế thần linh bản địa cho uống sống để được tài lộc…

BÙA PHÉP THÁI LAN !
Còn được gọi là Bùa Xiêm , nôm na gọi như vậy nhưng thực ra có rất nhiều trường phái , môn phái huyền thuật trên đất Thái ở các miền Nam , Bắc ! Thông dụng được nhiều người biết và tín ngưỡng cao là Pháp : Nô Mô Búd Thia Dắ (Ngũ Phương Phật), Hindu, Jatukham Marathep, Khunpaen v.v...
Mỗi năm tổng số tiền thâu nhập được từ các dịch vụ bán Bùa , cho thỉnh phép (Amulet , Charm) trên Mạng của Thailand có năm lên tới hơn 300 triệu Mỹ Kim . Trong đó bao gồm tâ't cả các loại Bùa Phù , tình yêu , công danh , ăn nói , lên chức v.v… với nhiều hình thức mang , đeo, nuôi, thờ, luyện ..... . Ví dụ như Gumanton (Ma con , Bé Linh Vàng) , Phorngung (Binh rừng , tướng núi), Lõ Lườn (Bùa hình dương cụ) v.v..... Dĩ nhiên những loại Bùa Phép do các Acharn (Sư Phụ) thiệt làm ra thì có số lượng và chất lượng rất là linh ứng , thừong là làm để qây quỉ xây Chùa , cứu tế . Cũng không hiếm những loại Bùa , Phép dõm mà người thỉnh tốn tiền cũng chẳng thấy kết quả gì . Vì do thỉnh trên mạng , tiền bạc thanh toán qua thẻ tính dụng hay ngân phiếu và do xuyên quốc gia nên việc đòi tiền lại cũng mong manh lắm khi gặp Bùa giả , điều này coi như là hên xui mà thôi.

Pháp Lỏ Lườn (Buà Thờ Dương Cụ)
Thái (Thái Lan) gọi là Padlakig, Ấn (Ấn Độ) gọi Lingam.
Theo Huyền Thoại của Ấn Giáo một vị Thánh Sĩ Bà La Môn muốn lên tham khảo về giáo lý pháp thuật quan trọng nơi cung trời nên xuất hồn lên cõi cuả Ngài SHIVA, khi đến cung điện của Ngài SHIVA vị Tu Sĩ kia gỏ cửa nhưng không ai trả lời, Ông lại gỏ cửa to hơn nhưng vẩn không trả lời. Ông lại tiếp tục gỏ lại chờ đợi sau cùng gỏ trở thành đập dộng đùng đùng như trống, cuối cùng thì Ngài Thiên Đế ShiVA cũng xuất hiện, nhưng với giáng đệu chậm rãi tay trái ôm quàng vai vợ là bà PARVATI ân ân ái ái để bước ra gặp vị Giáo Sĩ Bà La Môn.
Dĩ nhiên đều đó tỏ rỏ Ngài SHIVA đã chú tâm vào chuyện ân ái với vợ hơn chuyện chú tâm tới vị Thánh Sĩ kia. Thấy được tâm ý của ngài Shiva, và sự đối sử thiếu tương kính, vị thánh tu tuyên cáo vì ngài Shiva thích làm tình, nên vị thánh tu sẽ tôn thờ dương vật của ngài Shiva thay vì hình tượng. Vì vậy cho đến ngày nay Ấn giáo dùng dương vật để thờ ngài Shiva. Dương vật dựng đứng từ Âm hộ của phái nữ.
Dương vật biểu tượng cho Shiva có tên gọi là lingam . Lingam có nghĩa là “dấu hiệu” (sign).
Phallus hay lingam là biểu tượng cho Shiva cũng như sức sống, tái tạo. Không chỉ riêng Ấn giáo , thời thượng cổ ở Greek cũng có thờ Lingam, tuy khác về truyền thống, nhưng cùng chung một ý nguyện như, sức khỏe, cầu con, bảo vệ thai nhi, bảo vệ trẻ con, hạnh phúc gia đình. Có một truyền thống cổ tại Greek, ngươi vợ mới cưới trước đêm tân hôn thường phải qua một lễ, do một vị đạo sĩ, dùng lingam để chứng tỏ sự trong trắng và đồng thời ban phép cho người nữ dễ thụ thai. Nhưng sau một số vị đạo sĩ không dùng lingam mà dùng dương vật của mình nên gây nhiều tai tiếng và từ đó tập tục này không còn nữa.
Tượng đeo Phallus thời cổ của Greek.
Một truyền thuyết khác, một vị thánh tu rừng ghen giận khi người phối ngẫu của mình quá si mê ngài Shiva. Trong cơn giận vị thánh tu rừng đã cắc bỏ dương vật của Shiva và ném xuống trần thế. Khi lingam rơi xuống trần bể thành 12 đoạn, những nơi đoạn lingam này rơi xuống trở thành thánh địa. Thánh địa có tên gọi là 12 Jyotirlingas, Jyotirlingas có nghĩa là quang minh lingam, hay hào quang lingam. Là 12 nơi thường được hành hương tế lễ của các tín đồ Ấn giáo.
Lại một truyền thuyết dựa trên truyền thuyết trên, khi lingam Shiva rớt xuống trần. Sức sống và lực của lingam còn quá mạnh, nên lingam chuyển động đi khắp nơi. Khi di động sức nóng của lingam đốt cháy và tàn phá chốn đó. Chư thánh thần hợp sức nhưng không khắc phục được. Cuối cùng mẹ đất, Dharti Mata, hàng phục được lingam khi lingam chuôi vào âm hộ người.
Có lẽ truyền thuyết này là một để giải thích tại sao lingam dựng đứng trong âm hộ.
Ngày nay lỏ lường, Padlakig, tại Thái có sự liên quang mật thiết đến đạo Ấn giáo, là một phép môn cổ. Đạo Ấn giáo được truyền vào Thái lan và thịnh thành lâu đời trước Phật giáo. Tuy Phật giáo chiếm đa số tin ngưỡng của dân Thái, cũng như những nhu cầu và linh hiển vẫn còn ứng, phép môn này vẫn còn được lưu truyền, các hầu hết các pháp sư, tăng hay tục, đều biết về pháp môn này. Chỉ khác biệt là các tăng khi cho phép thường pha lẫn với phép phật.

BÙA PHÉP LÀO
Chưa một chính thể nào hợp pháp hóa Khoóng-đì (bùa ngải) và khoóng-hặc-sá (vật phòng thân), nhưng không vì thế mà hai môn nầy bị giảm giá trị đối với dân Lào - tất cả, bất luận bộ tộc và giai tầng xã hộị Hầu như không người Lào nào không giữ một vài món bửu bối phòng thân tục gọi Khoóng-hặc-sá cũng như không ai ở Lào mà không từng nghe nói tới Khoóng-đì, còn được gọi là Vicha Akhom (vi-sa a-khôm).

Khoóng-hặc-sá là gì ?
- Khoóng-hặc-sá hay Vật Phòng Thân là tên gọi chung cho các lọai Kà-thá (bửu bối) do các sư Lào làm ra với mục đích duy nhất và đầy thiện ý là giúp các tín hữu trong việc phòng thân, tự vệ ; hòan tòan không thể dùng Khoóng-hặc-sá để tấn công hay làm hại người khác.
Kà-thá có nhiều hình dạng khác nhau:
Ạ Một miếng vải màu vàng nghệ có ghi vài bí ngữ và ẩn số hay vẽ hình kỷ hà khó hiểụ
B. Một miếng đồng vuông vắn độ 5 x 5 phân tây có khắc vài bí ngữ và ẩn số được cuốn tròn lại, dùng một sợi dây xuyên qua để đeo ở cổ.
C. Một tượng Phật bằng đá đen, rồi tùy hòan cảnh tài chánh của mỗi tín hữu, tượng Phật có thể được viền hay mạ bằng vàng ỵ
D. Mạc Phảo Tà Điều (miếng vỏ dừa một mắt).
E. Khẹo Mú Tành (nanh heo rừng), Kháu Quang Hốt (một khúc sừng nai) hay Phrả Khăm Tằn (tượng Phật đúc bằng vàng ta nguyên khối).
Dạng A, B và C thường đã được các sư hệ tiểu thừa sụt môn (làm phép) sẵn, tín hữu chỉ việc vô chùa thỉnh. Dạng D và E tín hữu phải mang đền chùa nhờ sư làm lễ sụt đặc biệt.
Hai loại Kà-thá phổ cập nhất mà người Lào nào cũng có đeo trên người, đó là Ka-thá kằn phí hải (bửu bối ngừa ma dữ, đặc biệt ma Kong-koi, sẽ nói sau), và Kà-thá khắt lượt (bửu bối cầm máu) những vết thương nhỏ ngoài dạ
Điều kiện giữ gìn loại Kà-thá này là phải kh'lăm (kiêng cử) không được chui lòn qua dây hay hàng rào có phơi quần áo ; nếu là đàn ông, trước khi gần đàn bà phải cởi ra đặt lên chỗ cao ; lỡ vô ý phạm giới, Kà-thá chỉ mất hiệu lực chứ không gây '' tẩu hoả nhập ma '' như các Khoóng-đì hay vi-sa a-khôm dưới đâỵ

Khoóng-đì là gì ?
- Khoóng-đì theo nghĩa đen là Đồ Tốt nhưng theo nghĩa bóng và cứu cánh của nó thì không thể hiểu theo nghĩa chính của từ Hán-Việt '' bửu bối '' mà phải tạm dùng từ '' bùa ngải '' vì mục đích của Khoóng-đì chủ yếu là để tấn công, gây hại ; hoạ hoằn mới để phòng thân. Các sư bình thường không bao giờ làm ra Khoóng-đì. Tác giả của Khoóng-đì thường là các Mó-phí (thầy trị tà ma, pháp sư, phù thủy), vì như từ điển Lào đã định nghĩa, Mó-phí là người trừ phí (ma quỉ), người nuôi phí (liểng phí). Nói rõ là bất cứ Mó-phí nào cũng phải nuôi ít nhất một con Phí. Đó là điều hiển nhiên. Nếu không, Mó-phí chỉ còn là Mó, mà Mó bình thường ( chảng hạn Mó dà = thầy lang) thì làm sao trừ được phí ? Tóm lại, khi một Mó-phí đuổi được con phí X ra khỏi thân thể của một thân chủ, chúng ta phải hiểu là chính con Phí CỦA - chứ không phải trong - Mó-phí đã thắng con Phí X trong người nạn nhân.
Khoóng-đì thì trăm hình nghìn thứ, sự tò mò của tôi chỉ giới hạn ở một vài loại qua các '' vũ khí '' đã từng được chứng kiến hay nghe nói tới như Sái Nắng (da trâu, da bò), Lệp Mã (móng ngựa) ... và Lục Loọt (thai nhi).

Sái Nắng (miếng da trâu hay da bò) là vũ khí mà Khôn Thứ Khoóng-đì ( người giữ bùa hay ngải) dùng để ám hại kẻ thù bằng cách '' thư '' vào bụng đối tượng. Gặp nước trong bụng, miếng da trâu hay da bò sẽ càng ngày chương sình lên và nếu không kíp mời Mó-phí cao tay ấn đến lấy ra, nạn nhân sẽ đau bụng đến chết.

Lệp Mã là một miếng móng ngựa được mài nhỏ lại mà người giữ món ngải tên Vạn Mã (ngải ngựa) cất hay đeo trong ngườị nghe nói công dụng của Vạn Mã là để tự vệ, phòng thân nhưng theo chỗ tôi biết thì có thêm phần tấn công nữạ soạn giả có người bạn tên T., bà con đồn chàng có Vạn Mã : T. đang tản bộ giữa đường mà có người đi đến gần sau lưng và làm chàng giật mình thì tức khắc và tự động một trong hai chân của T. sẽ đá ra sau gần gần như ... ngựa ! Dĩ nhiên là bạn tôi chỉ đá một chân thôi, chứ nó mà đá cùng lúc hai chân y chang ngựa thì, trước khi chân nó đụng tới lông chân '' kẻ thù '', bản thân nó đã không dập mặt thì cũng ' ăn trầu '.
Thứ vạn nầy thật đúng sách binh pháp Tôn Ngô : Tiên hạ thủ vi cường ( tấn công trước là phương thức tự vệ hữu hiệu nhất) ! Giáng sinh 1995, nhân dịp về Lào lần thứ 2, luôn tiện đón Mẹ già qua Pháp thăm gia đình các anh chị và cháu chắt nội ngoại, tôi có gặp lại bạn T. nhiều lần bên bàn rượu tại Savannakhet. Bạn bè kể cho nghe lắm chuyện ly kỳ sóng gió về cuộc đời của T. sau cuộc đổi đời tại Lào 02/12/1975, trong đó có chuyện T. bị kẻ thù bỏ vô bao bố còn dằn thêm mấy khối đá, cột lại và vất xuống sông, thế mà hắn thoát được. Đặc biệt, chính bạn T. thuật lại cho soạn giả trường hợp hắn đã bị người Khạ trong vùng Parsoong - Attapư, Nam Lào, '' thư ngải '' ra sao ; sau hắn đã được cha nuôi của hắn, cũng là người Khạ, giải cứu như thế nào, nghe ra rùng rợn hơn cả tiểu thuyết kinh dị đường rừng của Lan Khaị

Môn Khôông là phép gồng với công dụng gậy đập không đau, dao đâm không vào, đạn bắn không thủng. Muốn luyện Môn Khôông, trước tiên môn sinh phải thuộc hạng liều mạng, lì đặc để có thể kinh qua nhiều thử thách gian nan, đôi khi nguy hiểm đến tánh mạng, hơn nữa phải đặt niềm tin tuyệt đối vào A-chan (sư phụ) trong suốt học trình và giữ nhiều kh'lăm sau khi thành tàị Quyết định luyện Môn Khôông là quyết định của quyết tử quân : Bất thành bất phục hồi, nếu không, môn sinh phải chịu phản ứng ngược, nhẹ thì đâm ra u u mê mê, nặng thì trở thành Phí-pọp (ma lai) !
Còn một loại ngải gồng có tên là Sa Bou Lượt (xà phòng máu) tức loại ngải dùng máu người đánh thành bánh, thành miếng như miếng xà phòng. Khi hữu sự, chẳng hạn ở chiến trường, người giữ Sa Bou Lượt chỉ việc bẻ một miếng nhỏ, nuốt vô bụng thì sẽ không còn sợ bom đạn nữa !
Có một giai thoại về Môn Khôông kể rằng:
''Một người Lào tên Khăm kết bạn tâm giao với một người Việt tên Đức. Ngày nọ, Khăm đang ngồi mài và lau chùi con dao săn cưng quí của anh thì Đức tới chơi, ngồi xuống bên cạnh coi bạn làm việc. Vốn tính tinh nghịch, Khăm đưa dao lên chỉa thẳng vào người Đức. Đức hoảng hồn đưa hai tay lên trời, kêu lên:
- Không ! Không ! Không !
Khăm lại hiểu thành '' Khôông ! Khôông ! Khôông ! '', mật chú để tác động phép gồng, nên chắc mẩm ông bạn hiền muốn thử, không nói không rằng Khăm lụi nhẹ con dao quí vào ngực Đức, chẳng may con dao bén quá, lọt lút cán ! Đức chết ngay tại chỗ. Khăm rú lên khóc, lẩm bẩm:
- Rõ ràng nó nói: Khôông, khôông, khôông kia mà ! ''


Phít Sa Lịc (bùa tránh đạn) là loại bùa được các tướng lãnh Lào ngoài trận mạc sử dụng nhiềụ Phít Sa Lịc có thật sự có hiệu nghiệm hay không, thú thật người viết chỉ được nghe nói tới nhiều chứ chưa từng chứng kiến. Dư luận đồn vài tướng tá người Lào có giữ Phít Sa Lịc như quí ông Nouane D., Luoane D., Kong L. ...

Môn Hái Tùa (bùa tàng hình) còn có tên là Lục Loọt, người Việt gọi là Thiên Linh Cáị Đây là loại bùa mà sự tạo tác đòi hỏi nhiều quyết tâm và dã tánh đến mức phi nhân. Lục Loọt có nghĩa là thai nhị Khi người vợ đang có mang một hai tháng, người chồng có chủ ý muốn luyện Lục Lọot sẽ xin vợ đứa con còn là thai nhi trong bụng vợ. Nếu người vợ đồng ý hoặc vô tình đồng ý, ông ta sẽ dùng mọi cách để lấy thai nhi ra, đôi khi phải hy sinh cả mạng vợ, trường hợp nầy theo truyền thuyết thai nhi phải được lấy ra trước khi người mẹ tắt thở.

Được thai nhi rồi người cha đem hơ nó trên lửa cho khô và teo lại đủ để bỏ vào trong một cái lọt (ống) và đeo vào người, khi hữu sự thai nhi sẽ bảo vệ cha bằng cách làm cho cha tàng hình được !
Dĩ nhiên khi dùng con ruột của mình để làm bùa tàng hình người cha phải giữ nhiều giới cấm, chẳng hạn trong mọi trường hợp không được cưới vợ khác và vĩnh viễn ưu tiên thương quí, cưng chiều thai nhi nhất trong gia đình, vì hồn thai nhi luôn luôn ở bên cạnh cha.
Ở Lào hẳn ai cũng từng nghe qua giai thoại về ông hoàng Boun Oum Nachampassak, vua vương triều Champassak, Nam Lào, trước 02/12/1975. Giai thoại kể rằng, dưới thời Pháp thuộc, ông Boun Oum liên minh với Pháp chống Phát Xít Nhật và trong một cuộc bố ráp, hiến binh Nhật bao vây và muốn bắt sống ông Boun Oum, thế nhưng bỗng dưng ông biến mất, an toàn trở về bản doanh kháng chiến. Người ta bảo ông Boun Oum có bùa Lục Loọt.

Môn Suột Nảm là bùa lặn dưới nước mà không cần thở. Có hai giai thoại về loại bùa nầy:
1. Ông Conti là một thú y người Pháp, thời thực dân ông có mở phòng thí nghiệm chế thuốc trị bệnh dịch tả bò tại bản Chinamô, cách thủ đô Vientiane độ 6 cây số miệt thượng lưu sông Cửu Long. Một sáng nọ, ông Conti đã lặn từ bản Kao Liểu, cách Vientiane 9 cây số hướng hạ lưu sông Cửu Long, và chỉ trồi lên khi đến Chinamô !
2. Ông hoàng Phetsarath là anh cùng cha khác mẹ của hai hoàng thân nổi tiếng trên thế giới một thời là ông Souvanna Phouma, cựu thủ tướng Vương Quốc Lào trước 02/12/1975 và ông Souphanouvong, cựu chủ tịch nhà nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào sau 02/12/1975. Thời làm phó vương triều Vientiane, dinh thự của ông hoàng Phetsarath tọa lạc ven sông Cửu Long. Mỗi sáng tinh sương ông có thú ra tắm sông, dưới sự bảo vệ của đội hộ vệ. Sáng nào ông muốn hoàn toàn tự do, ông lặn hàng nửa ngày dưới nước mà không cần trồi lên lấy hơi có lẽ đã quen gặp trường hợp nầy và hơn nữa hẳn đã được dặn trước nên đội hộ vệ cứ '' xừ xừ '' (thản nhiên) ngồi ... đánh bài chờ !

“Thiên hành” đã đọc truyện Thủy Hử của Thi Nại Am hẳn bạn chưa quên Thiên Hành Thái Bảo Đái Tôn, nhân vật có tài đi một ngày ngàn dặm nhờ vào đôi giáp mã đeo hai bên đùi và mấy câu thần chú ? Nhớ hay quên, tích nầy cũng đã trải qua hơn ngàn năm, từ thời Nam Tống bên Tàụ.
Bên Lào có giai thoại ''thiên hành'' tương tự nhưng cận đại và nhân vật chính bằng xương bằng thịt là đại sư Lắc Khăm. Giai thoại kể:
Bấy giờ thế giới chưa có máy bay phản lực và Lào chưa có phi trường. Một sáng nọ, lúc bảy giờ, từ Vientiane đại sư Lắc Khăm đi dự một buổi Bin-tha-bạt (khất thực) tận Bangkok rồi quay trở lại Vientiane để kịp dự một buổi Chẹc-hán (bữa cơm sáng giữa các chư tăng) vào lúc 9 giờ sáng cùng hôm đó. Vị chi đại sư đã khứ-hồi trên 1.300 cây số trong 2 giờ đồng hồ. Đại sư chạy hay bay ? Bí mật quốc gia !

PHÁI CHÀ KHA
xuất xứ từ Ấn Độ và đã truyền vào Thái Lan nhiều năm rồi, phái này thờ Thần Rắn còn gọi là Naga (cho nên những nét Bùa của Chà Kha uốn lượn như rắn). Căn bản cho người luyện Phép Chà Kha thì phải hội đủ 5 bài Kinh Chú, bao gồm: Kinh Tam Giáo, Thỉnh Tổ, Chú Hội Phép, Chú gọi Âm Binh, Kinh Cầu Nguyện, và cộng thêm10 chử Buà của 10 Vị Tổ trong bài Thỉnh Tổ (cho Thầy mỗi đêm luyện và uống). Buà Phép của Chà Kha rất nhạy bén và công dụng sài cho trăm việc như: thư ếm, chửa bệnh, trục tà, lên đài đấu, sên dầu thơm ăn nói, buà chú thương, gồng, .v.v.

PHÁI HỜI
Còn gọi là Bùa Chàm (Chăm) , xứ Lâm Ấp , Chiêm Thành xưa , khác với Bùa Chà (Hồi Giáo , Châu Giang ) .
Bùa Hời rất dễ luyện và xài , khi nhập môn chỉ cần cúng Tổ xị rượu , bó nhang , đèn cầy , 2 hột vịt , mấy điếu thuốc rê là được ! Chỉ cần 3 ngày đầu ngồi luyện cầu Tổ ngay ngắn mà thôi , sau đó vừa nằm vừa ca như ca Vọng Cổ vẫn linh như thường , phái này đặc biết có Môn Gội đổi số và ếm , thư Gò Mối . ếm Mã bắt linh hồn là tuyệt chiêu nhứt !

Những đệ tử tu theo phái này cũng thường xuyên thấy Tổ , Thầy về dạy trong mơ , TDT xin giới thiệu mấy bài Thỉnh Tổ Môn Hời này đến Quí Vị đồng Đạo xem chơi , ai có duyên thì sau này sẻ đạt được Huyền Linh xứ Đồ Bàn xưa cũng không chừng !
Môn Hời này Tiếng Kinh Chú làm chánh , chử Bùa cũng có nhiều nhưng không quan trọng bằng lời Chú , và Phái này Bùa cũng tương đối đơn giản , ít nét hơn các Môn khác . Khi có đệ tử nào đến chơi TDT sẻ nhờ họ đăng vài loại Bùa Hời lên để quí vị xem chơi .
Ai học Phép Hời thuộc đủ 3 bài này coi như đã được căn bản khai cuộc vậy .

Bài Tổng hợp của LHBT trên TGVH
Read More...

Câu chuyện bùa Lỗ Ban (tiếp theo)


PHẦN II
*Đoạn kết
Chú Ba Lành kể đến đây thì ngưng lại, bưng chun trà thơm còn bốc khói do Hấu vừa rót uống một ngụm, từ từ vấn thêm điếu thuốc rê mồi lửa rít một hơi, đôi mắt chú nhìn ra trước sân nhà thoáng một chút u buồn. Tôi không dằn được nữa buột miệng :
- Sự việc hai chú Sửu  và Tỵ gặp đó có phải giống như tụi cháu gặp hồi chiều không chú Ba?
- Không sai, và cũng là chữ bùa đầu tiên mà Tổ Sư gia Hiệp Ẩn truyền thụ cho tao.
Dầu đã đoán được chú Ba Lành chính là người lực điền tên Lành trong câu chuyện nhà ông Bảy Thọ, nhưng tôi cũng hỏi lại theo một phản xạ tự nhiên :
- Vậy chú Ba chính là anh Lành trong câu chuyện…
Chú Ba Lành cười dễ dãi :
- Vậy chứ mầy nghĩ tao là ai đây?
Chiến chợt xen vào :
- Nhưng sao chú lại thứ ba, anh Lành chỉ có một mình mà…
Hấu thì cụ thể hơn :
- Còn lão Mười Tung gì đó kết cục ra sao hở chú Ba, rồi gia đình ông Bảy Thọ, anh Định và cô… cô…
Cô Tư Én tiếp ngay lời của Hấu :
- Cô Ba Hạnh như thế nào hở chú Ba…?
Chiến còn thêm một thắc mắc :
- Không lẽ Tổ sư gia Hiệp Ẫn lại dắt trên củ tỏi đến hai cây móc tai sao chú Ba?
Trước những câu hỏi dồn dập của chúng tôi, chú Ba Lành vẫn thản nhiên vì chắc chú biết thế nào chúng tôi cũng sẽ hỏi như vậy, nhưng vừa nghe thắc mắc của Chiến, chú Ba Lành cười lớn :
- Ai nói với mầy vậy… không ngờ mầy cũng có tánh tò mò như tao hén. Lúc đó tao cũng nghĩ như mầy bây giờ, nên vừa về đến nhà là tao đi ngay lại chổ bát nhang bàn thiên, cây móc tai đã không còn trong đó. Tao và thầy Hai Lý quá đổi ngạc nhiên vì chỉ thấy Tổ sư gia cắm nó vào đó chứ có thấy ổng lấy lại đâu, không biết sao nó lại trở về trên củ tỏi của ổng chứ. Sau nầy theo ổng tao mới biết, chiếc móc tai đó là lệnh phù để vẽ bùa sai khiến người ta làm việc, khi làm xong họ sẽ mang trả về chỖ cũ, và lệnh phù nầy sẽ tùy theo đối tượng mình sai khiến mà sử dụng một trong ngũ hành …
Hấu buộc miệng :
- Ngũ hành là gì hở chú Ba?
- Là Kim, Mộc,Thủy, Hoả, Thổ… rồi thấy mặt chúng tôi như nghệch ra, chú Ba Lành biết nếu nói thêm nữa chắc không bao giờ kết thúc được câu chuyện nầy nên chú khoả lấp :
- Ối, mà tụi bây biết vậy được rồi, thêm nữa tao cũng chịu thua.
Sợ chú Ba Lành cụt hứng, Hấu bèn cười vả lả :
- Thôi chú Ba kể cho tụi cháu nghe khúc chót đi, lão Mười Tung như thế nào hở chú…?
Bập bập điếu thuốc rê cầm trên hai ngón tay cái và trỏ, chú Ba Lành nhìn theo làn khói thuốc tan từ từ trong bóng đêm :
- Gieo nhân nào phải gặt quả nấy thôi, tao nghĩ suốt đời tao không bao giờ tao quên được… Hôm đó mọi việc tại nhà ông Bảy Thọ coi như đã êm xuôi, thầy Hai Lý nhứt định từ giả để về mặc dù ông bà Bảy Thọ khẩn khoản mời thầy ở lại dùng cơm vì cô Ba Hạnh đã bắt mấy con vịt làm thịt rồi… Nhưng thầy chưa bước ra được tới cửa thì đã nghe tiếng thằng Hoành, con của Mười Tung đang ơi ới gọi thầy ngoài cổng. Được đưa vào nhà, Hoành đã khóc ròng mời thầy Hai đến nhà hắn ngay để cứu giùm ba hắn mà theo lời hắn thì không biết ba hắn bị bịnh gì nữa… Thầy Hai Lý ngoắc tao theo thầy đi ngay đến nhà Mười Tung. Trong căn buồng gói * lờ mờ dù bên ngoài đã hơi trưa trưa, Mười Tung đang nằm trên chiếc giường nhỏ, đôi mắt nhắm nghiền, mà theo lời Hoành thì anh em hắn đã đở Mười Tung lên giường chứ lúc đầu thì Mười Tung nằm ở dưới đất … bác Mười gái đang khóc nức nở bên cạnh ông ta. Một cái trang thờ nho nhỏ đặt trên chiếc tủ gỏ đâu mặt với cái giường mà hai tấm màn đỏ che trước trang hình như đã bị cháy xém và còn phảng phất mùi dầu phọng. Tao theo thầy Hai Lý đến bên Mười Tung, trong lúc thầy Hai cúi xuống kéo tay áo Mười Tung lên để xem mạch, mọi người đều rú lên kinh hãi khi thấy lớp da trên cánh tay mặt Mười Tung đã tuột đỏ hỏn như bị phỏng dầu sôi, nhưng bàn tay thì nắm chặt lại … thầy Hai mở những khuy áo Mười Tung ra thì thấy khắp người Mười Tung đều như vậy và mạch ông ta ngưng tự bao giờ. Mười Tung đã chết… Bác Mười Tung gái khóc lóc kêu gào thảm thiết trong lúc anh em thằng Hoành thằng Đực Lỳ lại nghĩ chắc là cha của họ chết vì một bệnh truyền nhiễm gì đây, nên họ năn nĩ yêu cầu thầy Hai Lý giấu dùm đừng nói cho chòm xóm biết vì họ sợ chính quyền lại đưa xác Mười Tung đi giảo nghiệm… dĩ nhiên là thầy Hai Lý đồng ý ngay.
***
Trên đường về tao hỏi thầy Hai Lý :
“Thầy Hai nghĩ, có phải Mười Tung chết vì phản tác dụng của bùa Lỗ Ban không?” Thầy Hai Lý không trả lời tao, mà hỏi lại :
“Hồi nảy mầy có thấy vật gì trong bàn tay nắm lại của Mười Tung không?” “Ông ta nắm lại thì làm sao con biết chứ.” Thầy Hai Lý bước nhanh hơn :
“Một cái hình nhân đã cháy đen giống y như cái mà mầy đã bỏ vào chảo dầu và đem chôn đó.”, và thầy Hai nói luôn :
“Thôi tao về luôn nha, mầy cũng đừng bao giờ đem chuyện nầy nói cho ai nghe để tránh hận thù vô lối… và mai mốt nếu gặp Tổ sư gia Hiệp Ẫn, cho tao gởi lời thăm ông”…
Chú Ba Lành chợt thấp giọng nhìn tôi :
- Và hôm nay tụi bây là những người đầu tiên nghe tao kể về cái chết của Mười Tung.
Chiến buộc miệng :
- Vậy những anh con trai của Mười Tung bây giờ như thế nào, chú Ba có biết không?
- Họ đi theo phía bên kia, khi cuộc chiến sôi động trở lại, và chắc không còn vì sau 75 không thấy họ trở về.
Cô Tư Én rụt rè nhắc lại :
- Còn cô Ba Hạnh thì sao hở chú Ba?
Chú Ba Lành không trả lời Tư Én mà lại mĩm cười nhìn Chiến :
- Hồi nãy mầy có hỏi tao, sao tao có một mình mà lại thứ ba chứ gì? hà hà…
*Chú thích:-  buồng gói là một căn phòng nhỏ thường dùng làm nơi sinh hoạt riêng tư cho chủ nhà, hoặc phòng tân hôn cho vợ chồng son…
Chú Ba Lành lại bưng chun trà uống một ngụm :
- Không nói thì tụi bây cũng biết là cô Ba Hạnh đã thương anh Định đứt đuôi rồi, nhưng sau khi nghe Cậu Mợ Bảy ngỏ lời hỏi thăm về gia thế trong ý định chọn anh làm rể, anh Định đã thưa thiệt là khi theo Tổ sư gia Hiệp Ẩn học bùa, anh đã có hứa với ông không lập gia đình để thân thể trong sạch luyện những chữ bùa ở cấp cao… nhưng…
Cả bọn chúng tôi nhao nhao lên :
- Nhưng thế nào hở chú Ba…?
Chú Ba Lành vuốt râu cười :
- Tụi bây thiệt tình mà, từ từ chứ… nhưng Tổ sư gia có cho anh hai năm để quyết định, và thời hạn nầy khi xong chuyện Mười Tung thì còn hai tháng nữa là hết…
Tôi chợt nhớ ra :
- A, hèn chi Tổ sư gia hẹn chú Ba hai tháng sau sẽ gặp chú Ba tại Thất Sơn, sao trùng hợp quá vậy…
Chú Ba Lành nhìn tôi gật gù :
- Mầy nhớ cũng dai thiệt hén. Đúng, khi đó vừa nghe anh Định nói vậy
tao liền cho anh biết là Tổ sư gia nói có duyên với tao và hẹn hai tháng sau đến Thất Sơn gặp Tổ sư gia…
Vừa nghe tao nói xong, anh Định đã ngăn ngay :
“Không được, chú không đi gặp Tổ sư gia được đâu”… Mọi người đều ngạc nhiên trong lúc tao hỏi anh :
“Tại sao lại không được chứ, đó là do Tổ sư gia dặn mà, Tổ sư gia còn nói, anh làm như vậy mới xứng đáng là học trò của Tổ sư gia đó…”
Anh Định lắc đầu :
“Theo môn pháp Tổ sư gia chỉ được nhận duy nhứt 1 đệ tử mà thôi, nếu Tổ sư gia nhận chú cũng đồng nghĩa là Tổ sư gia đã đuổi tôi… nhưng chú còn trách nhiệm với gia tộc, sao lại không lập gia đình được chứ…”
Lúc đó tao ngẫn người ra :
“Cái gì mà không lập gia đình, chuyện đó ăn thua gì đến chuyện gặp Tổ sư gia ?”
Anh Định thở dài chậm rãi :
“Chú Lành không biết đâu, bùa Lỗ Ban tùy theo tâm tánh của mình mà mình sẽ được truyền thụ chữ bùa ở cấp độ nào, Tổ sư gia Hiệp Ẫn không bao giờ truyền cho ai những chữ bùa tiếp cận với Quỷ, vì theo lời Tổ sư những chữ bùa nầy thường dùng để hại người mà thôi, mà nếu đã nhận những chữ bùa tiếp cận với Thần thì phải chấp nhận cuộc sống độc thân… Tôi cũng không hiểu sao lại như vậy vì Tổ sư gia không có giải thích, nên tôi không muốn chú…”
Lúc đó tao đã ngắt lời anh Định :
“Vậy anh thì sao?”
“Tôi là một cô nhi và tôi nghĩ suốt đời nầy chẳng ai thèm một người nghèo mạt như tôi nên…”
Anh Định chưa nói dứt câu thì có tiếng của Cô Ba Hạnh :
“Sao anh lại nghĩ như vậy chứ…” từ nảy giờ cô ngồi im trong góc nhà đôi mắt đỏ hoe khi nghe Định có ý như từ chối những lời ướm của cha mẹ cô, nhưng khi nghe Định giải bày lý do, cô không dằn lòng được nữa, mới lên tiếng, và sau đó lại cúi mặt nghẹn ngào khi bao cặp mắt đều nhìn về cô… Nhìn thấy cảnh tình như vậy, tao đã hiểu tại sao Tổ sư gia Hiệp Ẩn chọn tao rồi :
“Anh Định an tâm đi, tui nghĩ Tổ sư gia có lý của ổng… tui cũng là cô nhi như anh thôi, công lao nuôi dưỡng của Cậu Mợ Bảy, tình thương yêu đùm bọc của chị Ba, hãy cho tui làm một việc gì đó để báo đáp, và biết đâu những gì xảy ra sau nầy lại tốt đẹp hơn những gì mình nghĩ hôm nay…”
Anh Định vẫn chưa xiêu lòng :
“Nhưng…”
Tao gạt ngang không cho anh nói nữa :
“Không nhưng gì nữa hết, à mà anh hứa dạy đờn cho tui đó, chừng nào bắt đầu đây…”
Anh Định ứa nước mắt bước tới nắm lấy tay tao :
“Tôi không biết nói gì để cảm tạ ơn chú, nếu chú không chê… anh quay sang quỳ xuống trước Cậu Mợ Bảy : -
“Xin chú thím cho phép con nhận Lành làm em của mình và suốt đời nầy con nguyện có trời đất là thương em ấy như tình thâm huyết nhục “
Cậu Mợ Bảy cũng như tao thật bất ngờ, nhưng tao cảm động lắm… vậy tụi bây đã biết vì sao tao lại thứ Ba rồi chứ gì hì hì…
Cô Tư Én phụng phịu :
- Nhưng tới giờ chú Ba vẫn chưa nói cô Ba Hạnh sau nầy ra sao?
Chú Ba Lành cười cười :
- Thì họ làm đám cưới và sống rất hạnh phúc bên nhau chứ còn gì nữa mà hỏi.
Tôi buột miệng :
- Vậy những chữ bùa chú  luyện thì sao?
- Sau nầy khi tao theo Tổ sư gia, ổng nói là ổng đã biết hai người có duyên nợ với nhau nên khi trả lại chiếc túi bùa hộ mạng của anh Hai Định lúc đến cứu ảnh, ổng đã giải căn hết cho ảnh rồi, nên anh có thể lập gia đình và không còn sử dụng bùa được nữa…
Chú Ba Lành bổng đứng dậy bước đến chiếc tủ duy nhứt trong nhà lấy ra một chiếc hộp gỗ mun lên nước đen bóng :
- Tao cho tụi bây coi cái nầy nè…
Mở chiếc hộp gổ, chú Ba đưa chúng tôi xem tấm ảnh màu chụp bán thân hai người trung niên, một nam một nữ. Người nam khuôn mặt rắn rỏi, cương nghị mái tóc chớm hoa râm, còn người nữ thật âu yếm tựa đầu vào vai người nam, miệng cười mĩm thật dễ mến với khuôn mặt hiền lành xinh đẹp… Chúng tôi cùng buột miệng kêu lên :
- Hình của anh Định và cô Ba Hạnh phải không chú Ba?
Chú Ba Lành gật đầu :
- Đúng vậy, tụi bây nhìn thấy họ có xứng đôi không?
Chúng tôi chưa có ai trả lời thì chú Ba Lành đã nói tiếp :
- Tấm hình nầy ảnh chỉ mới gởi về cho tao hơn tháng nay thôi…
Dù đã đoán biết gia đình của Định hiện đang ở Mỹ qua lời nói lúc đầu của chú Ba Lành, nhưng tôi cũng tò mò :
- Anh… í mà ông Định hiện đang ở Mỹ hở chú Ba, tiểu bang nào vậy?
Chiến cũng xen vào :
- Họ đi trước hay sau năm 75 vậy chú Ba?
Cô Tư Én cũng tiếp lời Chiến :
- Họ có con không vậy chú Ba?
Chú Ba Lành trước những câu hỏi của chúng tôi, chú cười hì hì, đặt chun trà vừa uống xuống ván, nhìn Hấu mà lúc nầy đang cầm tấm ảnh của Định và cô Ba Hạnh trên tay :-
- Còn mầy, muốn hỏi gì thì hỏi luôn đi?
Rồi thấy khuôn mặt thộn ra của Hấu, chú Ba Lành vuốt vuốt chòm râu dưới càm :
- Tao biết chơi nhạc cổ truyền là do Cậu Bảy Thọ đã mở ngón * cho tao, anh Hai Định chỉ dạy cho tao được 3 Nam 6 Bắc thì anh tình nguyện vào trường Võ Bị Đà Lạt, nên vốn liếng nhạc tài tử của tao phần lớn là học từ Tổ sư gia Hiệp Ẫn… hà hà… tụi bây ngạc nhiên lắm phải không… tao cũng không ngờ là mấy năm theo Tổ sư gia, tao luyện bùa thì ít chuyên tâm mà luyện đờn thì tao hăng lắm, thét rồi Tổ sư gia cũng chìu tao hà hà hà…
Giọng chú Ba Lành đột nhiên trầm xuống :
- Tổ sư gia không có gì mà không biết, tánh tình thật là hào sảng, tao nghĩ trên đời nầy không có người thứ hai như ông…
Tôi lại nổi tánh tò mò :
- Tổ sư gia bây giờ ở đâu chú Ba có biết không?
Chú Ba Lành cười mĩm :
- Nếu biết được ổng ở đâu thì còn nói gì nữa… rồi chú hắng giọng :
- Lần chót khi ổng cho tao về, ổng nói ổng sẽ đi qua Miên thăm bạn của ổng rồi sau đó có thể ổng sẽ qua Lào hay Thái Lan gì đó… Ổng nói đất nước sẽ có nhiều thay đổi… tao còn gặp được ổng không cũng tùy vào chữ duyên…
Chiến xen vào nhắc lại :
- Còn anh Định sao hở chú Ba…?
- Anh ấy sau nầy là Thiếu Tá Biệt Động trong quân đội ở đây, …………., anh với cô Ba Hạnh có hai con 1 trai 1 gái… Sau ngày 30 tháng tư , gia đình đã mất tin tức của anh, gần 3 năm sau mới nhận được tin anh đang ở trong trại tỵ nạn bên Thái Lan chờ đi Mỹ… Cô Ba Hạnh cùng cậu Hai Long lúc nầy đã là bác sĩ đang làm việc trong bệnh viện Saigon liền thu xếp đem hết gia đình đi  bán chánh thức… và cuối cùng họ đã đoàn tụ lại bên Mỹ… họ ở chổ nầy nè, mầy biết không…?
Chú Ba Lành lại lấy trong chiếc hộp gổ ra một phong bì đưa trước mặt tôi tay chỉ vào góc đề tên người gởi… Tôi liếc qua thấy Trần Hữu Định…. xxx xxxx Ave xxxxxx NJ xxxxx USA … nên cười :
- Họ ở cách cháu một bề dài của nước Mỹ đó chú Ba… và tôi nhìn chú Ba Lành :
- Sao lúc đó chú không cùng đi với cô Ba Hạnh?
- Tao qua bên đó làm gì, ai chơi đờn ca với tao… hì hì tao là người đầu trần chân đất, ngay cả Saigon tao cũng không ưa… nên tao bán căn phố trước chợ Tân Định mà Cậu Mợ Bảy trước khi đi đã cho tao, về ở đây thật ung dung nhàn hạ, còn muốn gì nữa chứ…
Chiến bỗng nhìn tôi nháy mắt và nó hỏi chú Ba Lành :
- Rồi chú Ba phải ở một mình như vậy hoài sao…?
Chú Ba Lành bật cười ha hả :
- Mầy thiệt tình mà, hổng để cho tao có một chút riêng tư nào sao… mầy muốn nghĩ như thế nào thì nghĩ đi…
Rồi chú nhìn tôi :
- Chữ duyên trong đời người thật hiếm, vì dễ mấy khi cùng sở thích … cặp Lưu Thủy Bắc Oán Ai và Phú Lục Bắc Hạ Nam Oán là kỷ niệm trong đời đi chơi đờn ca tài tử của tao, tặng cho mầy coi như là duyên gặp mặt… Tao hy vọng lần sau mầy về gặp ngày giổ Tổ mình cùng nhau đi quậy mấy ông già trên nhà thờ Tổ hì hì…
Tư Én vừa cất lại mọi thứ vào trong chiếc hộp gỗ cho chú Ba Lành vừa lên tiếng :
- Con có được đi không?
Chú Ba Lành trả lời cô, một câu mà không biết do chú cố ý lạc đề hay ám chỉ điều gì khi chú lại nhìn tôi :
- Phải coi mầy có chữ duyên không đây….
* Chú thích:- mở ngón : trong giới chơi cổ nhạc, người đầu tiên dạy cho mình đờn gọi là mở ngón…
Chiếc Boeing 737 của hảng hàng không Cathay Pacific lướt nhanh trên phi đạo phi trường Tân Sơn Nhất trước khi lao vút vào khoảng không chói chang nắng gắt của Saigon.
Nhìn ra khung cửa kiến, mọi vật bên dưới đều nhỏ lại… vậy mà sao đôi mắt tự tin kiêu hảnh của người con gái “thất thập nhị huyền công” lại lớn dần lên trong cảm nghĩ của tôi. Trong số các bạn chơi đờn ca ra phi trường tiển tôi hôm nay Tư Én đã nổi lên như một hiện tượng vô hình vừa được khám phá. Chiếc áo dài trắng bình dị, mái tóc cột đuôi gà cao cao… vậy mà sao tôi thấy mình cứ mãi nao nao, và tôi lại ước mình là Ô Hắc Lợi để được ai kia làm Phi Long dâng rượu tiễn, để rồi tự mĩm cười khi chợt nhớ lời hứa không kịp suy nghĩ là giỗ Tổ năm sau tôi sẽ về VN… Phi cơ đã bình phi, nhìn ra chỉ còn mây trắng, mọi việc rồi sẽ quay vòng như cũ khi cuộc sống nơi xứ người dù muốn dù không vẫn là một trùng lập khắt khe, nhưng trong tôi từ nay có thể những định kiến chủ quan về nền văn minh khoa học kỹ thuật không còn là duy nhứt nữa và có phải một thế giới siêu hình vẫn tồn tại đâu đây… với những gì tôi chứng kiến tại nhà chú Ba Lành.
Tôi mở chiếc túi đeo vai, lấy bài nhạc Lưu Thủy Bắc Oán Ai mà cô Tư Én đã chép lại thật cẩn thận ra xem… nhìn nét bút nhẹ nhàng uyển chuyển ký âm những chữ hò, xự, xang, xê, cống… tự nhiên sao một nguồn hứng khởi cuồn cuộn trong tôi… và tôi muốn vẽ lại tấm gương anh thư hào kiệt của Nữ tướng Bùi Thị Xuân trước kẻ thù qua dòng nhạc hùng tráng bi ai giống như cuộc đời của người nghĩ ra nó : Chú Ba Lành.
Thằng Hấu chưa trả lời tôi thì đã quẹo xe vào một căn nhà. Nói là nhà cho oai vì nó thật đúng như lời miêu tả của nhà văn Bình Nguyên Lộc về cơ ngơi của những người dân quê tay lấm chân bùn : nhà tranh vách đất trống trước dột sau… Trước nhà có một cây xoài gốc thật to, lên cao khoảng ngang bụng thì phân làm hai nhánh, và hai nhánh nầy lên cao thì ngã la đà như hai chiếc lọng để che trên mái nhà thay vì lên đường thẳng như những cây xoài thường thấy. Một người đàn ông đang trút cỏ tươi từ trong bao ra máng cho con ngựa nhốt trong chuồng bên hông nhà.
- Chú Ba…
Hấu gọi lớn khi còn chưa tắt máy xe. Người đàn ông xoay người lại nhìn lên, hơi thoáng ngạc nhiên khi thấy Hấu và thêm mấy người lạ, vội lau hai tay bên hông, đi ra. Tôi , Chiến và Lực đều cúi đầu , còn nghe Hấu nói nhỏ “Chú Ba có một mình hà” :
- Chú là Chú Ba… chào Chú…
- Hấu, mấy Cậu nầy là… Hấu mau mắn :
- Chú Ba, mấy anh nầy… Trong lúc Hấu vắn tắt giới thiệu cũng như ý định của chúng tôi cho chú Ba Lành nghe ,(phải, người đàn ông đó là chú Ba Lành ) tôi có dịp nhìn kỹ hơn con người của chú. Chú có vẽ đã ngoài 50, mặc quần đùi đen gần tới gối, chiếc áo cánh sát nách bằng vải trắng đã ngã vàng với hai cái túi lớn đong đưa không biết đựng gì bên trong, tôi đoán chắc là thuốc rê, để lộ đôi tay gân guốc với bắp thịt nổi vòng đen sạm. Khuôn mặt thật hoà nhã dễ tạo cảm tình với chòm râu chớm bạc và đặc biệt là chú Ba Lành vẫn còn bới củ tỏi.
Nghe Hấu nói vừa xong, chú Ba Lành cười xỡi lỡi :
- Ô, vậy hả, để coi nè… à, mấy cậu vô nhà ngồi chơi, uống nước… Hấu, mầy vô bắt ấm nước dùm tao chút nha, tao cũng mới về có nước nôi gì đâu…
- Dạ, chú để con… Hấu nói xong chạy vào nhà sau , và chúng tôi theo chú Ba Lành vô nhà.
Đi ngang với Chiến, chú Ba Lành nhìn thằng Nhân nghẹo đầu trên vai Chiến, nước mắt vẫn chưa khô , chú cười bẹo má nó :
- Nhìn cái mặt nầy là biết quậy quá cở thợ mộc rồi, khóc cái gì chứ , một lần cho biết sợ nha con.
Nhà chú Ba Lành không có cửa, bên trong chỉ có bộ ván ngựa, nhưng ván ngựa thường có 3 tấm, của chú chỉ có 2 tấm lại loang lổ vết mọt ăn , vài cái ghế đẩu , một cái ghế xếp và một cái vỏng treo tòn ten giữa hai cây cột..Nhưng đặc biệt trên tấm vách bằng gổ lành lặn một bên nhà, chú Ba Lành treo hai cây đờn kìm và cò mà cán đờn lên nước bóng lưỡng, chứng tỏ chúng được xữ dụng thường xuyên. Mời chúng tôi ngồi xuống ghế, chú Ba Lành lấy trong chiếc vỏ bình bằng quả dừa khô cắt ngang, ra chiếc bình trà cũng đã mẻ miệng đưa cho Hấu vừa đi lên :
- Mầy lấy nước mưa nấu pha trà đó uống mới đã nha Hấu. Hấu dạ và đi ngay, hình như hắn đã quen thuộc với sinh hoạt của chú Ba Lành. Thằng Hấu đi rồi, chú Ba Lành lấy dưới sàn ván ra một cây mát vót (loại dao lưỡi dài khoảng 1 gang rưởi, cán dài khoảng 2 gang rưởi để cặp vào nách khi làm việc, bén ngót , thường dùng để chẻ lạt…) và 1 ống tre khô dài độ 1 gang. Chú ngồi trên bộ ván chẻ ống tre lấy 1 thanh bề ngang độ 1 lóng tay và chuốt thanh tre nầy thành hình như 1 cái đục.
Chú vừa làm việc nầy vừa nói với chúng tôi về đủ thứ chuyện, mà tuyệt nhiên không hề đá động gì đến chuyện chữa trị cái chân trặc cho thằng Nhân mà lúc nầy có lẽ vì mệt đã ngủ thiếp trên vai ba nó.Chú Ba Lành ngắm nghía cái đục cây và gật gù tỏ vẻ hài lòng cũng vừa lúc thằng Hấu xách bình trà lên với bốn cái ly. Nó rót trà ra ly, mùi trà bốc lên thơm ngát. Chú Ba Lành bưng ly trà lên mời chúng tôi :
- Các cậu uống thử xem, trà nầy tui ướp đó… không có bán ngoài tiệm đâu…
Và thật tự nhiên chú từ tốn thưởng thức ly trà thơm bốc khói, trong lúc tôi , mà chắc cả thằng Chiến từ sáng giờ chưa có gì vô bụng nên bỗng thấy cồn cào. Chú Ba Lành cười :
- Thử đi, bảo đảm không có xót ruột đâu… hì hì , các cậu sáng giờ chưa ăn gì phải không… thui ráng chút về ăn luôn nha… uống trà đi, để nguội không ngon…
Tôi bưng ly trà lên, mùi thơm của nó thật là dễ chịu, thử một ngụm, chất trà chát chát, đăng đắng, nong nóng qua cổ họng nồng lên mũi để lại chút vị ngòn ngọt khiến các mạch máu như giản ra, lượng máu lưu thông đưa oxy đến các tế bào nhanh hơn làm con người thật dễ chịu… nhìn qua thấy Chiến cũng nhìn lại tôi như cùng cảm nghĩ… Chú Ba Lành chợt đứng lên đi ra ngoài nhìn trời rồi trở vô nói với Chiến :
- Cậu có thể đưa cháu về nhà được rồi.
Chiến ngạc nhiên :
- Ủa, chú Ba chưa làm gì cho thằng nhỏ hết mà.
Chú Ba Lành cười :
- Xong rồi, còn làm gì nữa chứ… Cậu cứ đưa cháu về nhà nghỉ đi, nó mệt rồi đó. Tin tôi đi… rồi chú quay sang tôi :
- Còn Cậu, nếu muốn thì ở lại chơi, hì hì , chắc Cậu cũng biết chơi cổ nhạc…
Tôi tròn xoe mắt :
- Sao chú Ba biết?
- Tôi đoán vậy khi thấy cậu nhìn mấy cây đờn của tôi , cậu đờn hay ca…
- Dạ , ca…
Chú Ba bật cười lớn :
- Hà hà hà… vậy được quá… chú Ba chưa nói gì thêm thì thằng Hấu xen vào :
- Anh ấy ở nước ngoài về đó chú Ba…
- Thì đã sao… Thấy chú Ba Lành đã chuyển đề tài qua tôi, Chiến đành phải bồng thằng Nhân cùng Lực ra xe về. Trước khi Lực cho xe chạy , chú Ba Lành bỗng nghiêm sắc mặt nói với Chiến :
- Tôi giúp Cậu chữa cái chân cho thằng nhỏ là thường tình , Cậu đừng nghĩ sẽ mang ơn hay đền đáp gì cả , an tâm đưa cháu về nghỉ đi , ngày mai nó sẽ khỏi thôi.
Chú Ba Lành chấm dứt câu nói và vổ nhẹ vào vai Chiến. Tôi nói vói theo khi thấy Chiến còn ngoái cổ lại nhìn tôi :
- Chút nữa về tao sẽ ghé mầy . Tôi thấy Chiến gật đầu.

Hết
Read More...

Câu chuyện Bùa Lỗ ban

PHẦN I.
Nhà thằng Chiến, thằng bạn thân nhất của tôi lúc còn học Mạc Đĩnh Chi nằm ngoài mặt tiền con đường gì tôi cũng không nhớ tên, chỉ biết đi hướng về Lái Thiêu gần bên cây cầu tên là Giao Khẩu. Thật ra đây là nhà bên vợ của nó, ngày xưa lúc còn đi học, nó không phải là học sinh giỏi , nhưng trong xã hội hôm nay, kết quả của sự học tập thường không phải là thước đo cho cuộc sống kinh tế sau nầy. Lấy vợ , về ở bên nhà vợ , thằng Chiến đã nhìn ra vị thế thuận lợi của miếng đất nhà cha mẹ vợ nó nếu được khai thác để buôn bán vật liệu xây dựng… Và trong đà thi đua xây cất nhà của mọi người, không mấy chốc khu nhà ở của gia đình bên vợ thằng Chiến đã là một địa điểm buôn bán vật liệu xây dựng bề thế nhờ bên hông giáp bờ kinh cha mẹ vợ nó đã cho người ta thuê để bốc dỡ cát từ ghe chài lên cho xe tải mọi nơi trong thành phố về lấy. Với tài tháo vát , nói năng ,giao thiệp , thằng Chiến đã là con cưng của gia đình bên vợ nó. Khách hàng cũng rất thích mua hàng của gia đình nó vì được giao tận nơi nếu gần hay chỉ tính tiền xăng nhớt chút đỉnh nếu xa , vì nó có sắm sẳn hai chiếc xe ba gát gắn máy với hai người lái xe giao hàng cho khách ăn lương tháng. Thằng Chiến mới có một đứa con trai tên Nhân, năm nay khoảng 4 tuổi và khỏi nói cũng biết nhóc tì ta là cục vàng của gia đình nầy rồi.
Read More...

Kỳ 2: Thực hư chuyện ma quỷ về báo thù

Những bức hình vẽ người không đầu, hoặc bị kẹp đầu kèm theo những lời bùa chú huyền bí càng khiến ai trông thấy lần đầu cũng ghê sợ... 
Đón nhận những cuốn sách quí từ tay ông Triệu, chúng tôi nhẹ nhàng lật dở từng trang, từng quyển. Mặc dù không hiểu sách viết gì, nhưng những hình vẽ trong các cuốn sách đã khiến chúng tôi có cảm giác gai lạnh nơi sống lưng. Trang đầu tiên là hình người bắt chéo chân, chéo tay như bị trói, bị giam nhốt trong ngục và bị chém, bị đốt. Rồi những trang tiếp theo có cả những hình người với 3 cái đầu, 3 sắc diện, trạng thái khác nhau. Những bức hình vẽ người không đầu, hoặc bị kẹp đầu, treo cổ kèm theo những lời bùa chú huyền bí càng khiến bất cứ ai trông thấy lần đầu cũng ghê sợ, khiếp vía…
Hiện tượng chưa thể lý giải
Sách nói gì? Đó còn là một điều bí ẩn, song trong dòng họ Hà và những người hàng xóm nơi ông Quản từng sinh sống vẫn còn truyền tai nhau những câu chuyện “huyễn hoặc” khiến không ít người phải tin hay có lúc làm người nghe phải nể sợ, kính phục.
Có ai đã từng chứng kiến cảnh bệnh nhân được quấn một tấm vải, cho nằm ngoài sân và phủ lên một lớp vỏ trấu. Sau khi châm lửa đốt, đống trấu cháy đỏ rực thành than mà người bệnh không hề gì? Hơn nữa, việc những người con trai nhà phù thủy Hà Kim Quản liên tiếp gặp tai ương có phải là ma quỷ về báo thù hay chỉ là lời đồn đoán?
Read More...

Chuyện bùa chú của Thầy phù thủy Hà kim Quản


(Pháp lý) – Bùa chú! Ai đã từng nghe và ai đã từng thấy? Một lần tình cờ, tôi có được mấy quyển sách hướng dẫn làm bùa được viết bằng chữ Nho do một ông thầy phù thủy đã mất cách đây 20 năm để lại. Nói đến bùa, tôi có biết người Thái có bùa của người Thái, người Mường có bùa của người Mường,… với các loại như bùa yêu, bùa ghét, bùa chữa bệnh,… còn bùa của nhà nho thì tôi đã thấy làm nhưng hiểu thì còn rất mông lung, mơ hồ. Và tôi quyết “khăn gói quả mướp” đi tìm người giải mã đống sách chữ nho cùng nắm lá bùa mà tôi đang có trong tay.
Kỳ 1: Bùa … những ai đã từng biết???
“Khi thầy mất, con cháu đừng cất công đi tìm sách của thầy. Vì nó có sức mạnh vô biên, người có đức học được thì tốt bằng không thì họa hại. Một ngày nào đó thầy bắt gặp ai có căn số tốt hợp với thầy, thầy sẽ về báo mộng và truyền lại cho người đó và họ sẽ đến tìm”, – đó là lời cuối cùng trước khi nhắm mắt của thầy phù thủy Hà Kim Quản tự Kim Quản.
Có duyên gặp sách
Nói như nhà Phật thường nói, phải có duyên thì mới gặp. Nói thế thì chứng tỏ tôi có duyên với đống sách của nhà phù thủy Kim Quản rồi. Đó là dịp nghỉ lễ 30/4, thay vì về quê thăm gia đình tôi lại về nhà bạn chơi. Đang ngồi uống nước tại nhà ông Bùi Văn Triệu (trú xã Gia Thủy – Nho Quan – Ninh Bình) chả hiểu sao tôi lại ngẩng mặt lên nóc nhà và rồi thấy một cái gì đó rất khó hiểu. Buột miệng tôi hỏi ông luôn “có cái gì trên nóc nhà mà kỳ lạ vậy ông?”. Đáp lại, ông bảo: Làm gì có cái gì. Tôi có thấy gì đâu!
Một số lá bùa trừ ma quỷ mà “ phù thủy” Hà Kim Quản để lại
Tôi tưởng ông biết đó là gì, ông nói khéo như vậy nên thôi, chuyển chủ đề khác. Nhưng sau khi đặt chén nước xuống ông bảo, hay cháu trèo lên xem là gì giúp ông. Khách đến nhà, tự ý thì không được tiện cho lắm nhưng được ông “ban chiếu” thì tôi đành nghe theo vậy.
“Là một bọc sách ông ạ” – tôi nói. Ông nheo mày khẽ nói “Sách gì nhỉ. Cháu mở ra xem nào”. Được ông cho phép, tôi lật dở từng trang. Đó là những cuốn sách được viết bằng chữ nho với những hình vẽ kỳ quái kèm theo một số tờ giấy nhỏ được viết bằng mực tàu đen – đỏ. Cầm trên tay những quyển sách đang đi vào giai đoạn mục nát, ông run run, ngấn lệ “đã 20 năm nay có rất nhiều người tìm đến tự xưng là hậu duệ của ông ấy nhưng họ không tìm thấy sách, hóa ra những cuốn sách đó lại để ngay ở đây…”.
Read More...

Phép thuật kỳ bí của tộc người Rục

Cuối năm 1959, bộ đội Biên phòng Cà Xèng đóng tại Thượng Hóa trong một lần tuần tra đã phát hiện nhóm “người rừng” nhút nhát, không mảnh vải che thân, leo trèo vách đá, chuyền cành nhanh như thú hoang. Sau nhiều tháng tiếp cận, bộ đội đã vận động được họ rời hang đá về định cư ở thung lũng Rục Làn, xã Thượng Hóa. Từ đây tộc người Rục được biết đến như là em út trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đến đầu năm 2013, tộc người Rục được quốc tế đưa vào danh sách 10 bộ lạc còn nhiều điều bí ẩn nhất thế giới.
nguoiruc2-1374481604_500x0.jpg
Một góc bản người Rục hiện nay. Ảnh: Tiền phong.
Theo ông Đinh Thanh Dự, nhà nghiên cứu văn hóa các tộc người ở Quảng Bình, gần hết một đời người bỏ công nghiên cứu nhiều tộc người trên địa bàn, nhưng với người Rục vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với ông và các nhà khoa học. Nay tuổi già, sức yếu không cho phép ông có những chuyến điền dã, nhưng ông vẫn luôn đau đáu về những gì còn dang dở với người Rục.
Read More...

Một Gốc Dứa Có 21 Trái

Trung tuần tháng Tư năm 1993, nhằm mùa Pimay Lao ( Tết Lào ) tôi về lại Lào nhân chuyến công tác thiện nguyện cho Hội Học Đường Không Biên Giới ( Ecoles Sans Frontière ) và đã được nhìn tận mắt một cảnh lạ tại Ban That, cách Savannakhet 15 cây số, nơi tọa lạc tháp IngHang nổi tiếng, trong đó, theo truyền thuyết có lưu giữ xá lợi của Đức Phật là một sợi tóc. Cảnh lạ đó là một gốc dứa ( thơm / khóm ) lại kết được những hăm mốt ( 21) trái ! Con rể chủ vườn là người Việt, em trai của một người bạn cũ nay đã qua đời. Lần thứ nhất tôi theo gia đình ra xem, chùm dứa 21 trái, mỗi trái to cở nắm tay người lớn. Thâm tâm tôi thắc mắc nhưng chưa dám mạo muội kiểm chứng. Khách viếng tấp nập. Mỗi đầu người vào xem phải cúng dàng 100 Kịp ( tiền Lào ) để góp phần vào việc tu bổ các chùa trong vùng. Truyền hình Lào có đến thu hình và cho phổ biến khắp nước. Một tuần sau tôi ra xem lại, đi cùng cô bạn học cũ tên L. từ HongKong về thăm nhà, 21 trái dứa đã to hơn chút đỉnh và đã được chủ vườn làm hai vòng hàng rào bao quanh, lại có thêm hương hoa nhang khói nghi ngút, người Lào gọi là Bu-Sa.
Read More...

Cuộc đấu phép giữa Ma Lai và thầy phù thủy

Theo lẽ còn một số thiên sứ mang hình ảnh Ấn Phật mà người Lào rất sùng kính như Phra In ( Thượng Đế ), Phí Thén, Phí Phrả ( Trời ), Nang Thorani ( nữ thần đất ), Thén Tẻng hay Pissanoukan ( thần mỹ thuật ), Thén Lổ ( thần chủ trì việc hợp nhất và tổ chức nhân quần ) v.v... và có thể lạm bàn liên miên về vô số Phí thuần Lào khác trên đất Lào như Phí Đôồng ( ma đồng ), Phí Pà ( ma rừng ), Phí phửm ( ma núi ), Phí Pủ tà ( tổ tiên, ông bà ), Phí Phò ( cha ), Phí Mè ( mẹ ) ... song thiển nghĩ như trên cũng tạm đủ để hiểu sơ về Phí, nhất là tạm đủ để hình dung tiềm năng tưởng tượng dồi dào của người Lào trong quá trình tạo ra thế giới Phí của riêng họ, trên đất nước họ, trong cuộc sống và lẽ sống của chính họ mà xét ra còn thật hơn thế giới - nghe nói và chỉ mới nghe nói sẽ đồ sộ huy hoàng - mà một nhúm người đã và đang tàn tâm, tàn lực mộng mơ. Dân số Lào quá ít lại quá đôn hậu để có thể thử thách lâu hơn nữa trong việc tạo dựng thế giới đồ sộ huy hoàng viễn mơ nầy. Cũng như ở hải ngoại, chuyện bán đất trên trời trong cộng đồng tị nạn đã đi trước cơ quan NASA của Hoa Kỳ những hai, ba mươi năm nay. Đa số rao giá cả là tùy hỉ, tùy tâm. Bán đất trên trời để ganh đua phóng lao tạo dựng những cơ ngơi nghênh ngang dưới đất vốn chính họ cho là cõi ta bà cát bụi, huyễn mộng, hư không ... :
Read More...

Ma quỉ trên đất Lào


Tác giả Hàn Lệ Nhân

Khi bạn hỏi một người Lào : " Ma là gì, có thật hay không ( Phí mèn nhắng, mi thẻ lứ bò ? " . Họ sẽ thành thật trả lời : " Cũng không biết nữa ( kà bò chắc léo ) hay chằng-và là nơ ( thì thế ). Câu trà lời thứ nhì có ngụ ý Có và Không, tức bạn muốn hiểu sao thì hiểu hay nếu muốn, tùy hoàn cảnh để mà hiểu. Khi bạn hỏi họ đã từng thấy ma ( phí ) chưa mà họ có vẻ hốt hoảng trả lời bạn bằng mấy tiếng " hoày ( oái ) " hay " dzồ ( ồ ) " thì bạn nên tế nhị, lịch sự ngừng ngay việc đặt câu hỏi. Mấy tiếng " hoày ", " dzồ " là một cách biểu lộ sự … kh'lăm của họ !


Họ không thể hoặc không muốn giải thích cho bạn nhưng tựu trung Phí đối với họ là tất cả hay không là gì hết ; hoặc bất cứ một đồ vật, một hình tướng nào cũng có thể tiềm ẩn một linh hồn, một loại Phí với một tên gọi riêng biệt :


Nhận Diện Các Phí


1. Phí Koong Koi (Ma Koong Koi)


Phí Koong Koi : Ma cô độc, ma rừng núi … thích ăn ruột, gan, lòng thú và … người sống.
Read More...

Những kiêng kỵ trên đất Lào


Tác giả Hàn Lệ Nhân

Mỗi người sống lâu năm trên đất Lào dù muốn dù không đều giấu trong tâm linh cùng lúc hai hai niềm tin. Một niềm tin có định nghĩa thoát tục, xa vời : Tôn giáo. Một niềm tin với định nghĩa trần thế, hiện tiền : Dị đoan, mê tín hay tín ngưỡng dân gian. Trên lý thuyết hai niềm tin nầy đã được phân ranh rõ ràng, với hai nội dung, hai hình thức và hai cứu cánh khác nhau. Qua dị đoan, mê tín người Lào cầu tìm hạnh phúc và sức khoẻ, sự an toàn và sự bảo bọc trước mắt và tức khắc cho mỗi cá nhân và cho cộng đồng ; còn qua tôn giáo ( Phật giáo tiểu thừa nói riêng ), ngoài cứu cánh nói trên, họ cầu một giải pháp tạm thời cho các hệ lụy tâm linh trong đời sống hiện tại tức hiện sinh hay hư sinh đồng thời dự phóng một sinh lộ siêu thời gian, ngoài kiếp người tức siêu sinh hay niết bàn. Trên thực tế tại đất nước Lào, hai niềm tin nầy sinh hoạt bổ túc hài hoà, cởi mở tự nhiên trong tâm linh 6 triệu con người, đến nổi chính họ, trong đời sống hàng ngày hay trong các dịp lễ lạc, hầu như không còn băn khoăn bóc tách giữa niềm tin tôn giáo ( thứ Phụt = thờ Phật ) hay niềm tin dị đoan ( thứ Phí = thờ Ma ). Có thể khẳng định mà không sợ lầm lẫn rằng hai niềm tin nầy trên đất Lào có một mối tương quan kỳ lạ tạo nên một cấu trúc tín ngưỡng đặc thù cho đại thể dân tộc Lào (1). Các dịp lễ có tính cách dị đoan như Bun Bang Phay ( Hội pháo thăng thiên, lễ cầu mưa ), Bun Suồng Hưa ( Hội nước, lễ đua thuyền ) …
Read More...

Bùa ngải trên đất Lào

Chưa một chính thể nào hợp pháp hóa Khoóng-đì (bùa ngải) và khoóng-hặc-sá (vật phòng thân), nhưng không vì thế mà hai môn nầy bị giảm giá trị đối với dân Lào - tất cả, bất luận bộ tộc và giai tầng xã hội. Hầu như không người Lào nào không giữ một vài món bửu bối phòng thân tục gọi Khoóng-hặc-sá cũng như không ai ở Lào mà không từng nghe nói tới Khoóng-đì, còn được gọi là Vicha Akhom (vi-sa a-khôm).

Khoóng-hặc-sá là gì ?


- Khoóng-hặc-sá hay Vật Phòng Thân là tên gọi chung cho các lọai Kà-thá (bửu bối) do các sư Lào làm ra với mục đích duy nhất và đầy thiện ý là giúp các tín hữu trong việc phòng thân, tự vệ ; hòan tòan không thể dùng Khoóng-hặc-sá để tấn công hay làm hại người khác.


Kà-thá có nhiều hình dạng khác nhau:


A. Một miếng vải màu vàng nghệ có ghi vài bí ngữ và ẩn số hay vẽ hình kỷ hà khó hiểu.
Read More...

Thành 'cao thủ bùa yêu' sau một giấc mơ?

Leave a Comment


Theo ông Tản, không thể kể hết những gia đình đã được ông hàn gắn tình cảm cho đến thời điểm này.

Chỉ vì một giấc mơ lạ cứ lặp đi lặp lại mà ông Quách Văn Tản đã trở thành một "cao thủ bùa yêu" của xứ Mường ở Hòa Bình.

Nhìn theo tay của chú Hải - người dẫn đường của chúng tôi - ngôi nhà sàn đơn sơ nằm chênh vênh trên dãy núi sừng sững dần hiện ra. Lúc chúng tôi đến thì ông Tản đang loay hoay kiểm tra những tổ ong rừng trước cửa nhà. Thấy có người lạ ông dừng tay, ngẩng mặt gật đầu chào chúng tôi.

Hai người đàn ông trao đổi qua lại bằng những câu tiếng Mường mà tôi chỉ bập bẹ hiểu đôi ba câu. Nói đoạn, ông Tản tươi cười mời chúng tôi lên nhà, đến lúc đó tôi mới nhìn rõ khuôn mặt người đàn ông gắn với nhiều giai thoại và lời đồn đại này.



Ông Quách Văn Tản.

Ông tên thật là Quách Văn Tản, là người gốc ở xóm Thung, Yên Phú. Đã bước sang tuổi 60 mà nom ông Tản còn trẻ lắm. Thân hình rắn rỏi, nước da trắng và dáng người mảnh khảnh, mái tóc cũng chỉ điểm vài sợi bạc. Nếu không nói hẳn người đối diện khó đoán biết được tuổi thật của ông.
Read More...

Chuyện thật về người có mình đồng da sắt ở Việt Nam

Leave a Comment
Nơi người Arem và Macoong sinh sống ở một thung lũng nằm tít sâu trong rừng Trường Sơn, giáp với biên giới nước Lào. Nơi thâm sơn chỉ có một màu xanh ngằn ngặt của đại ngàn ấy, hai tộc người này đã trải qua những cuộc chiến sinh tồn đầy cam go, khắc nghiệt. Bởi thế, bây giờ, dù đã phần nào tiếp cận với thế giới văn minh nhưng ở thung lũng hoang dã này vẫn còn tồn tại những bùa phép rất đỗi lạ kì...

Ông Giàu cầu khẩn xin ma mót để mình biểu diễn pháp thuật. 


Kì 1: Đốt môi, lưỡi, gan bàn chân bằng dao nung đỏ


Chúng tôi bị mê hoặc bởi câu chuyện của một cán bộ biên phòng. Lên công tác tại xã vùng biên Tân Trạch (huyện Bố Trạch, Quảng Bình), người lính trấn ải này đã chứng kiến một chuyện mà giờ kể lại vẫn chẳng ai tin. Một buổi đi địa bàn, anh bắt gặp một cán bộ xã đang làm phép để chữa bệnh cho một người dân. Sau khi niệm chú, vị cán bộ xã đó đã ngậm hẳn con dao đỏ rực được nung rất lâu trong than hồng để làm phép...


Cũng như nhiều người, tôi chẳng tin điều lạ lùng ấy. Thế nhưng, cán bộ biên phòng này bảo, cứ lên đó thì khắc phải tin.


Kì nhân chốn đại ngàn


Con đường 20 huyền thoại nối liền trung tâm huyện Bố Trạch tới Tây Trường Sơn rồi chạy tuột sang biên giới nước Lào. Đây là con đường được đắp bằng xương bằng máu. Chiến tranh, giặc Mỹ điên cuồng bắn phá Đông Trường Sơn, ngăn cản đường tiếp viện của ta cho miền Nam ruột thịt. Bởi thế, năm 1966, con đường này đã được gấp rút khai thông. Quân dân ta bạt núi, chặn khe dưới bom đạn bời bời. Không biết bao nhiêu bộ đội, thanh niên xung phong đã anh dũng ngã xuống để từng đoàn xe bon bon ra tiền tuyến. Bây giờ, đường 20 vẫn chẳng khác xưa là mấy. Vẫn gập ghềnh, lởm chởm những đá tai mèo.
Read More...

Lỗ Ban Toàn Thư

Leave a Comment
Nguồn Gốc Về Lỗ Ban Tiên Sư: Sư họ Công Thâu, tự Y Trí, là thánh hiền nước Lỗ, tiên sư là người dân bình thường trong huyện Hưng Long, phủ Châu Long Hưng, nước Lỗ, cha ngài là Hàn Hiền, mẹ ngài là họ Ngô, ngài sinh vào năm thứ 3 Lỗ Định Công, vào giờ Ngọ ngày mồng 7 tháng 5 năm Giáp Mậu, vợ ngài họ Vân, hai người cùng nhau tạo dựng, đốn củi ở Hồng Châu, đến khi trong nhà phát tài, chiêu mộ dạy đệ tử, truyền sách quý cho con cháu đời sau, bản thư này vạn ứng vạn linh, tứ phương tùy hành.
Phương Phương Linh
Tiền Truyền Hậu Giáo
Bản sách bao gồm các phương thức Khai Sơn, Khai Hiệu, Phạt Mộc, Yểm Sát, Hạ Cột, Lập Trụ, Cơ Nội Thiết Thần, Thượng Lương, Đả Táo, Khởi Thủy, Khai Quang, An Quyển, Định Môn, vv....
Cần phải kế thừa được tinh hoa của sách rồi sau đó mới có thể truyền lại cho kẻ khác được, vận dụng các pháp 1 cách linh hoạt, người học phải ghi nhớ nếu làm sai mất linh.
-------------------------------
Yểm Sát Yểm Phạm Chú
Tập Chú Ngữ
Chú ngữ này cần phải học 7 ngày, mỗi ngày cần học vào lúc sáng sớm khi bước xuống giường, khi tập chú không được để cho người khác biết, đốt hương, đốt nến, thỉnh niệm 3 lần, từ 1 đến 7 ngày, trong thời gian 7 ngày nếu để người khác biết, sẽ mất linh, phải làm lại từ đầu.
Yểm Sát Yểm Phạm Chú Như Sau :
Read More...

Tinh thần - sức mạnh của bùa chú

Leave a Comment
Tuy bị coi là mê tín dị đoan nhưng bùa chú vẫn tồn tại từ xưa đến nay trong văn hóa các dân tộc. Tại sao vậy? câu hỏi chỉ một, còn cầu trả lời thì không bao giờ hết.
Nhiều dân tộc có bùa chú
Nói chung, bùa chú là dấu hiệu đặc biệt được con người sử dụng cho một mục đích cụ thể cho bản thân hay cho đối tượng có liên hệ với mình.Thực tế, trong sinh hoạt hàng ngày của nhiều dân tộc trên thế giới, kể cả các dân tộc Việt Nam, đều tồn tại bùa chú.
Bùa là một hiện vật cụ thể, chú là một hay vài câu nói có nội dung nhất định được lặp đi lặp lại khi người ta dùng bùa. Dùng bùa chú có hai mục đích: tốt và xấu - tốt cho mình và cho đối tượng của mình còn xấu chỉ riêng cho đối tượng của mình.

Người Việt thường có các loại bùa gần như hình xăm trên người, vẽ trên khăn, trên vải để mang và mặc, làm bằng sáp thơm đặt trong hộp gỗ, tượng phật bằng các chất liệu khác nhau để trong hộp hay đeo trên cổ, vẽ trên miếng chì mỏng, đeo theo người, làm bằng vàng bạc gắn trong người, hy vọng vết thương sẽ được chữa khỏi, viết trên giấy đeo theo người hoặc treo trên tường, khấc trên gỗ đeo trên tường, vẽ vào không khí bằng khói hương…
Read More...

Chuyện Bùa Chú

Leave a Comment
Thường thì ai cũng nghe, cũng đọc hoặc nhìn thấy ít nhất một lá bùa trong đời, tuy nhiên không mấy người có được khái niệm làm được một đạo bùa là như thế nào. Vì vậy mình xin góp chút ít hiểu biết của mình về lĩnh vực này nhé. Phù chú Bắc tông có nguồn gốc từ Trung Quốc thì khá là cầu kỳ, phức tạp, nhưng nét vẽ thì rất đẹp. Để làm được 1 lá phù Bắc tông, phải lập đàn, có nghi thức cầu kỳ lắm, vì vậy mình xin nói về cách làm 1 đạo bùa của Nam Tông nhé ( tạm coi Nam tông là dòng phù chú xuất xứ từ phía Nam nước ta, gồm cả Miên, Xiêm.....Có 1 số phái như Lỗ ban sát, Chà Kha, Ngũ phương Phật

Thường thì trước khi học về bùa phép Nam tông, người đệ tử phải qua một quá trình thử thách trước khi nhập môn, 100 ngày ăn chay nằm đất, luyện Ngũ Bộ Chú ( Án lam xóa ha, án sĩ lâm bộ lâm hồng phấn tra, án ma ha tất đát đa bất đát ra, án ma ni bát di hồng, án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha - đừng ngạc nhiên nếu các bạn thấy hơi khác so với Ngũ Bộ chú theo kinh sách Mật tông ). Sau quá trình này, mới được nhập cửa điện nhà thầy để học bùa phép...có câu đọc 1000 lần Kim Quang thần chú, không bằng một câu Án Lam.

Mình nói chi tiết về cách thức thực hiện một đạo bùa Nam tông, để cầu tài, để may mắn trong tình yêu. Tuy nhiên, xin phép được bỏ đi phần chữ bùa, nhằm tránh những thí nghiệm vô ích, đôi khi còn có hại. Bởi vi phái Lỗ ban có câu " Bùa linh do tổ ". Nên dưới đây chỉ có ý nghĩa tham khảo mà thôi, cũng như trong hệ thống chính trị, hoặc trong công ty, chỉ những người được ủy quyền của lãnh đạo, mới có quyền ký và đóng dấu công ty, dấu chức danh, tất cả những chữ ký, con dấu mà không có ủy quyền, chỉ là giả mạo, hậu quả thật khó lường.


Xin nói về cách làm phù ( của một môn phái dòng Nam Tông - xin được dấu tên ) Các đạo bùa sau ,dễ dàng hiện thực với đạo hữu nào có sẵn căn bãn tu luyện ,tuy vậy mà tính hiệu quã không kém phần ,cần cữ ăn thịt trâu chó rắn rùa ,cá chép ,các vị thuốc có sừng tê giác ,rau dấp cá ,khế chua .,không chui qua dây phơi quần áo …cần nhứt là không sát sinh hại vật ,phù sẽ mất hay giãm phần linh ứng …. -lá bùa trên được chú giãi như sau –khi làm bùa cho thân chũ ,lấy 1 tấm vãi màu vàng còn mới ,kêu họ úp 2 bàn tay đễ sát nhau vào khăn vãi ,sau đó lấy kéo cắt ngay vãi chỗ úp tay ,có hình chữ nhật ,vẽ bùa màu đõ vào khăn ấy ,tam thanh là 3 net vvv vẽ trước ,kế vẽ phần như tấm lưới ,sau hết vẽ phần như eee với cái móc –phía dưới bùa ghi tên họ tuỗi người thân chũ -nhớ lúc vẽ bùa và ghi tên thì luôn nín thỡ -hễ thỡ ra vô là phãi nhấc tay lên –khi nín thỡ thì lại hạ bút vẽ tiếp .-liên tục trong 3 ngày ,giờ ngọ thắp 5 cây hương khấn :-nam mô tiên sư, tỗ ,sư tam giáo đạo sư,tam vị thánh tỗ lỗ ban ,12 thần phù chứng cho tôi việc …. ,nín thỡ đồ lại bằng đầu hương các net bùa và tên họ người dùng –(trong lúc nín thỡ đồ lại lòng thầm niệm chú :-nu bi đà quá ,de bi qua hum tên ..họ…tuỗi…được việc……) đồ xong rồi kê nén hương lên môi thỗi khói hương vào lá bùa (khăn )….lúc hớp hơi vào ngước mặt lên trời về phía đông …lại tiếp tục hoạ phù bằng nhang như vậy cho đũ 12lần .,thong thã mà làm .tức là 12 lần niệm chú và 12 lần thỗi vào lá bùa .ngày hôm sau,buỗi sáng ,có thễ giao bùa cho người xữ dụng ,lúc giờ thìn là tốt nhứt ..không nên giao bùa từ lúc ngọ hay chiều tối ,sẽ kém hiệu quã .người dùng bùa nên cữ các món ăn như đã nói trên ,lá bùa nầy hiệu quã trong 1 tuần hay nữa tháng …sau đó người dùng muốn tiếp tục thì phãi giao lại cho thầy tom lại 3 hôm như trên ….nên đễ bùa trên bàn thờ trong 1 cái dĩa sạch chưa dùng ,cúng hoa quã ,trà nước tinh sạch là việc cũa pháp sư …….người dùng nên đễ bùa trong túi áo ,không được đễ túi quần ,lúc về nhà không dùng nên đễ bùa trên bàn phật hay gia tiên ……………khi không dùng nữa phãi trã lại lại cho pháp sư ,không được tự ý vứt bõ …….pháp sư nên phun rượu vào khăn bùa 3 lần ,giũ bùa 3 cái –lòng cãm ơn chư thần tỗ và nói 3 lần–bách giãi chưsự,thần quy đáo hồi bỗn ,cấp như luật lệnh ….sau đó đốt khăn trong lò đất với cồn hay rượu mạnh , đốt cho không còn sót mẫu nào ……..về phần người dụng bùa nếu trước có hứa xong việc cúng tạ tỗ thì phãi giao cho pháp sư cúng tạ như lời hứa.nếu muốn công năng bùa mạnh hơn nên tom bùa liên tục như trên trong 7 ngày .công dụng bùa nầy dùng nói chuyện tạo các cơ hội làm ăn ,mai mối ,kêu gọi khách ,nói chuyện hoà sự ,hay tạo mối quan hệ lúc đầu tốt đẹp cho đối tác cũng như trong việc tạo cãm tình giữa đôi nam nữ trong những lần gặp mặt đầu .người dùng bùa nên vái việc mình muốn 3 lần ,trước khi đễ bùa vào túi áo ,có thễ cho bùa vào 1 túi vãi đõ cũng tốt ,người nữ có thễ cho bùa vào áo ngực .,pháp sư khi trao bùa cho thân chũ bằng tay phãi cũa mình nếu là nữ ,và tay trái nếu là nam ,nên ghi nhớ đều nầy .

Một đạo bùa khác
Đây là 1 đạo bùa ,mà cách hiện thực cũng như trên bài 1 ,tuy nhiên nó sẽ nâng cao hiệu quã hơn với đạo bùa đầu ,nó đặc biệt ứng dụng vào sự mai mối kinh doanh nào mà người cầm bùa trực tiếp đụng chạm liên quan đến TIỀN .có thễ làm đạo bùa đầu tiên cho họ xữ dụng ,sau 21 ngày sẽ nâng cấp lên dùng đạo bùa thứ nhì nầy .-khi tom (sên bùa )chĩ cần đỗi thần chú như sau (na ma a chăn )3 lần .-nam mô thâu vạn đa tài chơn tứ phương ,bá nhơn nhất đạo đắc đa lợi ,thần phù taịo ngã giáng hiễn linh ,câp câp như luật lịnh sư tỗ .đạo phù đầu ta sên 12 lần mỗi giờ ngọ ,nhưng đạo phù nầy cần phãi 36 lần sên hương nhang vào…….nếu rộng ngày nên tom trong 7 ngày ,21 ngày cho bùa mạnh mẽ ….cũng là tuỳ việc có tầm quan trọng cỡ nào .ta nên lựa ngày tốt khỡi sự làm pháp ,cũng như chọn ngày tốt giao bùa cho thân chũ …các loại sách coi ngày đều ghi rõ ,nên dễ dàng áp dụng vậy .cũng có khi ngày giao bùa không tốt thì ta nên hoãn 1-2 hôm cho được tốt ngày .

Khi muốn thực hiện phép ,cần chuẫn bị lễ vật cúng cho đũ ,không nên đễ sơ sót ,không đễ ai kêu mình lúc làm phép ,tập trung vào việc không nghĩ vu vơ ,cần tắm rữa tinh sạch trước ,quay về phía đông hay đông nam lúc làm phép ,cần nhứt là trước đó nên tập vẽ và nín thỡ tom bùa cho thuần thục , đễ lúc tom bùa không lúng túng quên thần chú ,phãi học thuộc làu làu ………..không vẽ phù rồi vứt bõ lung tung ,phãi tập trung lại hoá đi trong lò đất .Có một điều nhiều pháp sư hay vấp phãi là uống rượu say và mắng mõ người ……không nên đễ tỗn âm đức …..vị pháp sư có thễ không nói ,mắng …nhưng hoàn toàn có thễ làm mà không nói …còn hơn lỡ lời nói mà không làm .

Những hướng dẫn trên, đều là cách thức làm 1 đạo bùa của một môn phái. Mỗi một loại bùa phép, lại có những câu chú, nghi thức làm bùa riêng, ít loại nào giống loại nào.

Hình minh họa - một chữ phù của phái Lỗ Ban Núi

Sưu Tầm (hoangthantai.com)

Read More...
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Tìm thêm