Showing posts with label Dã Đàm. Show all posts
Showing posts with label Dã Đàm. Show all posts

Dã đàm Tả Ao (iv)

Leave a Comment
137. Dần Long hai hướng: Khôn, Thân (hình 12)

Hình 12: Dần Long
Giải thích câu 137 (hình 12)
Nếu là Dần long thì hay có 2 hướng huyệt:
1. Tọa Cấn hướng Khôn
2. Tọa Dần hướng Thân.
138. Giáp Long Đinh hướng về phần:
Càn Khôn
Read More...

DÃ ĐÀM TẢ AO (iii)

Leave a Comment
C. Nói thêm
Nhân tiện nói về long tả toàn và long hữu toàn, cụ Tả Ao nói thêm những gì ở chỗ long gặp thủy.
61. Bên trước nước đã hợp thâu.
62. Lai nhận có đống bên sau chăng là.
Hai câu này là 2 câu chuyển, đại ý như sau:
Trên kia đã nói về nước gặp long
Bây giờ nói đến phần đất ở chỗ nước gặp long đó, phần đất này có khi là thuận long (đi xuôi theo chiều nước).
Có khi là nghịch long (đi ngược chiều nước).
Có khi là hoành long (xoay ngang chiều nước chảy).
Xem hình vẽ dưới đây sẽ thấy:


Với 3 thế long này, cụ Tả Ao chỉ lưu ý đến thế Hoành long vì nó có cách đặc biệt:
63. Hoành long thì nước thực thà.
64. Dù chẳng có nước, ắt là đối không.
Có nghĩa là khi long quay ngang ra thường xa nước Chính (tức dòng nước lớn) xa như thế nên hay bị cạn nước ở minh đường (nước thực thà).
Cũng có khi xa quá, đến nổi không có nước ở minh đường nữa (đối không).
Tiếp theo cụ nói thêm về sự có âm dương phối hợp, chắc chắn có đất kết.
65. Âm dương đã có thư hùng.
66. Cửa nhà đã hợp vợ chồng liên giao.
Có nghĩa là nếu có âm dương gặp nhau như:
Read More...

DÃ ĐÀM TẢ AO (ii)

Leave a Comment
CHƯƠNG THỨ HAI
TỪ LONG KHỞI TỐ ĐẾN HUYỆT TRƯỜNG
Mỗi kiểu đất kết thường nằm trong một cuộc đất. Mà tầm long là tìm cho hết một cuộc đất chứ không phải chỉ tìm ra một huyệt trường.
Nhiều người học địa lý không thể tìm ra được một cuộc đất để ấn định huyệt trường. Họ chỉ căn cứ vào câu này của cụ Tả Ao để tìm một huyệt trường (chỉ là một phần nhỏ của một cuộc đất):
Bên trên trồng đỗ,
Dưới lỗ cấy chiêm
Hai bên lưỡi liềm quơ lại.
Căn cứ vào bí quyết đơn sơ đó, họ tìm nơi ria ruộng, bờ sông, hễ thấy chỗ nào mạch đất, chạy đến ao hồ hay ruộng chiêm, mà có 2 chi dài, một chi ngắn, thì đoán: chi ngắn là huyệt trường và 3 chi dài nếu ôm vào huyệt trường, thì họ liền cho đó là tay long và tay hổ. Thật ra phép tìm đất kết như thế không phải là sai, nhưng chỉ tìm tắt như thế vẫn có thể nhầm. Số là có nhiều khu đất có hình thể như vậy mà không có huyệt, bởi huyệt là chỗ tận cùng của long mạch, còn chỗ kia có thể chỉ là một cái vẩy, cái bướu của thân long chứ không phải là nơi tận cùng kết huyệt. Nó chỉ giống những huyệt kết, nhưng không phải là huyệt kết.
Các cụ gọi chỗ trông giống huyệt mà không phải là đất kết này là giả huyệt. Táng vào đây không bao giờ được kết phát. Tuy nhiên cũng có vài người tìm phép 2 chi dài 1 chi ngắn như trên lại trúng huyệt thật, nhưng mà là họa hoằn, rất hiếm.
Muốn chắc ăn ta có thể tìm thấy một chỗ nào như trên, rồi coi nó như là giả thiêế một huyệt kết, từ đó ta sẽ tìm tiếp theo lên nữa cho tới phát tổ sơn của nó tức là nơi phần long (chân mạch) xuống đất kết. Phát tổ sơn hay nơi phân mạch cũng ví như chỗ phân chi của một cành cây, mà chỗ đất kết là nơi đâm bông, kết quả (trái). Được như vậy rồi lại phải có cái nhìn tổng quát của cả một khu vực có cuộc đất từ gốc đến ngọn ta mới có được nhận định rõ rệt về toàn thể khu vực có đất kết. Nếu là huyệt thật, thì may mắn biết bao, trường hợp là giả huyệt thật, nơi có đất kết. Hơn nữa nếu học tầm long theo phép tổng quát này, khi tìm được huyệt thật rồi, nhờ có cái nhìn bao quát, ta mới hiểu được là cuộc đất lớn hay nhỏ, tốt hay xấu, một cách chính xác. Cũng có khi nhờ nó, mà sau khi đi lại xem xét kỹ lưỡng, ta lại còn khám phá ra một hay huyệt kết nữa. Có khi một hai kiểu đất kết tìm ra sau là huyệt kết bàng mà huyệt tìm ra trước mới là huyệt chính. Trái lại cũng có khi huyệt trước chỉ là huyệt bàng mà một, trong những huyệt tìm ra sau mới là huyệt chính. Phải nhìn toàn thể cả mấy huyệt ta sẽ thấy rõ rệt là huyệt chính phần nhiều ngay ngắn và huyệt bàng ở tay long thường quay sang phải, cũng như huyệt bàng ở tay hổ thường quay sang trái – Lý do là hai huyệt này ở hai bên triều vào huyệt chính.
Read More...

DÃ ĐÀM – TẢ AO

Leave a Comment
OZ-Tôi đã có dịp đọc hơn trăm câu Dã đàm Tả Ao song sức hiểu có hạn mò mẫm giữa đêm đen, may thay sau này có được một file PRC của tảc giả Cao Trung diễn giải-mà tôi post dưới đây, thật hết sức dễ hiểu, ngôn ngữ bình dị mà ai cũng dễ nhập tâm, thậm chí trong lúc cao hứng trà dư tửu hậu có thể đem ra luận bàn.
Vì vậy đã có ý đưa lên blog nhưng chưa có thời gian chuyển file PRC sang Word, bữa nay ta bà vào trang anh dienbatn thấy anh có đăng nên cọp về đây giới thiệu với những ai thích nghiên cứu tìm hiểu về Phong thủy.
Mong anh dienbatn đánh cho tiểu đệ hai chữ “đại xá” nhé.
TỰA
Của Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ
Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn
Giáo sư Đại học Nhân văn và
Nghệ thuật Viện Đại Học Minh Đức
Cách đây mấy năm ông Cao Trung đã nhờ tôi đề tựa quyển Địa Lý Tả Ao của ông, nay ông lại có nhã ý nhờ tôi đề tựa tập Dã Đàm Tả Ao này.
Tác giả cho biết đây là tài liệu viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh thuộc giòng giỏi cụ Tả Ao, viết năm Canh Thìn (cụ Tả Ao tên là Nguyễn Đức Huyên).
Tôi may mắn có bộ sách “Tả Ao chân truyền địa lý” do Hà Kim, Duyên Tự Sơn Nhân hiệu đính, Bất Chuẩn Phiên khắc và hiệu Nghĩa Lợi hàng Đào phát hành năm Kỷ Mùi (1919) đời vua Khải Định.
Tôi đem hai bản so sánh thì thấy hầu hết giống nhau, ngoại trừ một vài chi tiết nhỏ. Như thế là chúng ta có thể vững bụng về phần tài liệu.
Nhưng dù là đọc bản in tại Hà Nội hay bản viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh, tôi cũng thấy hết sức khó hiểu. Trái lại khi tài liệu trên vào đến tay ông Cao Trung thì nó lại trở nên khúc chiết, rạch ròi, vì nó đã được ông Cao Trung đem công phu phân thành tiết mục hẳn hoi, nhất là sự bình giải hết sức sáng suốt cặn kẽ.

Read More...
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Tìm thêm