Công thức:
KA1Si3O8- Độ cứng theo thang Mohs:
5,0- 5,5-Khối lượng riêng: 2,5- 2,6 g/cm3. Hệ tinh thể xiên -Ánh thủy
tinh, Amazonit – fenspat xanh lá cây hay xanh lá cây phớt xanh da trời có ánh tơ trăng mờ. Loại đá này đã được biết tới
từ thời cổ đại.Trên lãnh thổ Êtiôpi và Ai cập đã có những khu mỏ
amazonit từ vài nghìn năm trước Công nguyên.

Những nhà sử học khẳng định rằng, đầu
tiên vào năm 1783 R. B. Rome de Lille đặt tên cho một số viên đa màu
xanh lá cây lấy từ khu vực sông amazôn là “đá của các nữ chiến binh
Amazôn”. Về sau, vào năm 1847 A. Breithaut đặt cho loại đá này tên ngắn
gọn là “amazonit”. Thần thoại cổ Hi Lạp khẳng định rằng Hyppolita –
người chỉ huy cúa các n ữ chiến binh Amazôn có chiếc thắt lưng làm bằng
những viên đá màu xanh lá cây. Có lẽ đó chính là đá amazonit? Nhưng dù
sao, theo bằng chững chủ những nhà sử học cổ đại “những viên đá của các
nữ chiên binh Amazôn” dường như lấy được từ dãy núi Riphaei. Đó là tên
gọi trước kia của Ural, nơi thật sự có amazonit. Mỏ amazonit cũng có ở
Braxin, Ai Cập, Canađa, Mông Cổ, Na Uy, Hoa Kỳ và Nam Phi, trên bán đảo
Kol’ski, vùng Trung Á và Ukraina.
Read More...