- Vậy sao thầy không trao đổi học thuật với Thầy Tư Ngỡi đi!
- Mày coi đó, dù sao tao cũng danh thầy trưởng môn, ngang tầm với ổng, chẳng lẽ hạ mình… cầu học làm đệ tử ổng sao! Rồi thêm sư Bá mày ghét ổng như ghét cứt! Khó xử cho tao quá!
- Con thấy ông Tư Ngỡi cũng dễ chịu thôi mà thầy…
- Tao nói thiệt, nếu tao là mày, tao sẻ học ngãi của ổng cho mở mang kiến thức học thuật với người ta! Chớ chỉ biết thuần có mặt bùa thôi thì thiệt tình là chưa đủ… Tao được sư phụ cho ôm cái bàn Tổ chánh danh có đó, mà miếng thì thực ra còn thua Sư Thúc mày mấy bậc! Lạ đời cái là thằng nào có vợ con mới được danh trưởng môn!
- Vậy thầy thấy con có học ngãi được hôn thầy! Có phạm quy lời thề hay không?
- Chánh tà là tự do tâm, tao đâu có cấm mày! Học được có chỗ nào hay lạ thì nhớ nói lại cho thầy nghe. Vả lại đừng cho thằng nào biết! Nhứt là 2 vị Sư Thúc bá của mày đó…
- Dạ… để con chờ có dịp nào…
Sư phụ gởi gắm tâm sự là vậy, mình rất hiểu ổng sau bao năm theo sát thầy, cũng bởi không vướng bận mèo mỡ vợ con. Ngủ lôi hỏa của mình trội hơn thầy thấy rõ. Ổng cũng biết điều đó, và còn kiếm cớ gởi mình lên núi phụ việc với Sư Thúc hàng năm, thực chất là để dễ bề thọ truyền từ Sư Thúc! Sư Thúc hiểu tất cả, ổng không ngần ngại chỉ mình những tuyệt chiêu đặc dị mà ở chốn rừng núi mới thẩm thấu được. Sư Thúc nói: - Sư Tổ không dấu gì đâu, sở dĩ truyền cho tao mà không truyền cho thầy mày với mấy ông kia vì các vị bể bầu dương sớm quá! Có ham luyện tới già mấy môn nầy cũng không ấn chứng là bao nhiêu. Uổng công. Phải còn là đồng tử, luyện cho thành thì mới được lấy vợ, nó sẽ không bao giờ mất.